AN NINH CỦA HOA KỲ &

VẤN ĐỀ DO THÁI – PALESTINE

 

Trần Bình Nam

 

          Bước qua năm 2005 hai vấn đề quan tâm lớn nhất trên thế giới là việc cứu trợ những nạn nhân tại Á châu do vụ động đất và sóng thần ngày 26/12/2004 và nền an ninh của thế giới trong đó nét nổi bật nhất là cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ.

            Liên quan đến vấn đề an ninh của Hoa Kỳ, bốn mươi (40) người Mỹ đa số là giáo sư đại học vừa bày tỏ ý kiến về một giải pháp bảo vệ an ninh của nước Mỹ qua một quảng cáo đăng trên tờ The Economist số đầu năm (Jan. 1st – 7th. 2005 – trang 8).

            Các nhân vật đó là: Robert Art (Brandeis University), Andrew J. Bacevich (Boston University), Dong Bandow (nguyên phụ tá đặc biệt của tổng thống Ronald Reagan), Nicolas Berry (giám đốc Foreign Policy Forum), Richard Bets (Columbia University), Michael E. Brown (Georgetown University), Juan R. Cole (University of Michigan), Michael Desch (Texas A&M University), Michael Doyle (Columbia University), Carolyn Eisenberg (Hofstra University), Sumit Ganguly (Indiana University), Paul Gessing (Teh Free Liberal), Leon Hadar (tác giả cuốn Sandstorm: POlicy Failure in the Middle East), David Hendrickson (Colorado College), George Herring (University of Kentucky), Joseph P. Hoar (Tướng U.S.M.C. hồi hưu), Stanley Hoffmann (Harvard University), Samuel Huntington (Harvard University), G. John Ikenberry (Princeton University), Robert Jervis (Columbia University), Miles Kahler (UC San Diego), Stuart Kaufman ( University of Delaware), Peter F. Krogh (Georgetwon University), Christopher Layne (bình luận gia, The American Conservatvie), Anatol Lieven (Carnegie Endownment), Ian Lustick (University of Pennsylvania), Scott McConnell (Executive Editor, The American Conservative), John J. Mearsheimer (University of Chicago), Andrew Moravcsik (Princeton University), Augustus Richard Norton (Boston University), Edward L. Peck (Cựu đại sứ Hoa Kỳ), John L. Peterson (chủ tịch, The Arlington Institute), William B. Quandt (University of Virginia), Paul Schroeder (University of Illinois, Urbana-Champaign), Tony Smith (Tufts University), Stephen Van Erera (MIT), Jon Basil Utley (người chủ trương ConservativesForPeace.com), Stepehn Walt (Harvard Unicersity), Kenneth Waltz (Columbia University), William Wohlforth (Dartmouth College).

            Ý kiến của quý vị giáo sư và nhân sĩ trên tóm tắt như sau:

            Chúng tôi, tuy quá trình chính trị và trình độ nhận thức khác nhau, đồng ý với nhau rằng chính sách Trung đông hiện nay của Hoa Kỳ không phục vụ quyền lợi quốc gia, không thể biện minh về mặt đạo lý và tối hậu không mang lại lợi ích gì cho nhân dân trong vùng.

            Hoa Kỳ có hai mục tiêu an ninh quan trọng tại Trung đông:

1.     Thắng mạng lưới khủng bố Al Qaeda của Osama bin Laden

2.      Bảo đảm không mất nguồn dầu hỏa ở đó.

            Cả hai mục tiêu trên đều bị đe dọa bởi cuộc tranh chấp không có giải pháp giữa Do Thái và Palestine.

            Chính sách của thủ tướng Ariel Sharon tiếp tục chiếm giữ một phần lớn đất của vùng Tây ngạn (West Bank) và duy trì những khu định cư Do Thái ở đó có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ ở Trung đông. Dân Palestine sống trong những vùng đất (vốn của họ) hiện do người Do Thái kiểm soát không thể quyết định tương lai chính trị của mình làm cho người A Rập và người Hồi giáo mất cảm tình với người Mỹ và làm cho cuộc chiến chống khủng bố của chúng ta gặp khó khăn. Ông Yasser Arafat hoặc vì bất lực, hoặc vì không muốn ngăn chận sự khủng bố người Do Thái cũng như thất bại trong việc tổ chức một chính quyền hữu hiệu đã góp phần làm cho cuộc tranh chấp Do Thái – Palestine kéo dài, nên sự ra đi của ông mới đây có thể giúp tìm một giải pháp. Chúng tôi tin rằng tìm một giải pháp chấm dứt cuộc xung đột Do Thái - Palestine sẽ giúp cho Washington bảo vệ quyền lợi của mình trên nhiều bình diện.

            Mấy cuộc thăm dò ý kiến mới đây do Shibley Telhami của đại học Maryland và viện Brookings Institute cho thấy Hoa Kỳ mất nhiều cảm tình của dân chúng trong vùng Trung đông. Ngay trong những nước có truyền thống đồng minh với Hoa Kỳ như Ai Cập, Jordan và Saudi Arabia cũng có từ 79 đến 95% người dân không thích Hoa Kỳ. Bảy mươi lăm phần trăm nói rằng họ ghét Hoa Kỳ vì họ cho rằng cuộc chiến tranh Do Thái - Palestine không có giải pháp vì Hoa Kỳ đã bênh vực Do Thái vô điều kiện.

            Tổng thống Bush đã góp phần không nhỏ làm cho dân Trung đông có cảm nghĩ trên. Ông thường cho cuộc chiến chống al Qaeda và cuộc chiến Do Thái chống Palestine chỉ là hai mặt của một cuộc chiến. Ông quan hệ chính trị với những thành cực đoan Do Thái chủ trương một nước Do Thái lớn rộng hơn. Ông đã làm ngơ trước hành động mở thêm các khu định cư Do Thái trong vùng Tây ngạn. Và mới đây ông ủng hộ đề nghị của ông Sharon đơn phương sát nhập một phần Tây ngạn trước khi Do Thái đưa ra một giải pháp chính trị (đơn phương rút ra khỏi giải đất Gaza *).

            Người Mỹ cần ý thức rằng nếu chúng ta bị thù ghét tại Trung đông thì rất khó cho chúng ta thực hiện những mục tiêu an ninh quốc gia tại đó.

            Trước hết hãy xem xét cuộc chiến chống bọn khủng bố al Qaeda. Mặc dù Osama bin Laden nói mục đích đấu tranh của anh ta không phải là đuổi người Do Thái mà là đuổi những người “không có đạo Hồi” (infidels) ra khỏi thánh địa của Hồi giáo, cuộc chiến tranh Do Thái - Palestine cũng làm cho chúng ta khó phá vỡ mạng lưới của anh ta. Để có thể thắng cuộc chiến khủng bố toàn cầu Hoa Kỳ cần làm việc với các nước Trung đông có cùng quyền lợi địa lý và kinh tế với Hoa Kỳ và chúng ta phải thuyết phục người A Rập và người Hồi giáo đừng có nghe Osama bin Laden mà chống Hoa Kỳ. Khổ nổi, chúng ta không có đồng minh và chúng ta nói không ai nghe vì người ta cảm nhận rằng chúng ta ủng hộ người Do Thái chiếm giữ đất của người A Rập trong đó có vùng thánh địa linh thiêng hàng thứ ba của người Hồi giáo ở Jerusalem.

            Cuộc chiến tranh Do Thái - Palestine nhì nhằng là mối đe dọa nguồn dầu hỏa Trung đông rẻ tiền tối quan trọng cho nền kinh tế Hoa Kỳ. Đừng quên rằng trước đây các nước sản xuất dầu hỏa (OPEC) đã dùng dầu hỏa như một vũ khí để trừng phạt các nước bênh vực Do Thái trong cuộc chiến tranh giữa các nước A Rập và Do Thái (năm 1967 & 1973 *). Đương nhiên vì quyền lợi kinh tế, các nước Trung đông - trừ một vài nước A Rập quá khích - sẽ tiếp tục bán dầu hỏa cho thế giới, nhưng cuộc tranh chấp Do Thái - Palestine vẫn là một yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc mua dầu hỏa của chúng ta.

            Bây giờ nhìn về mặt tài chánh của cuộc chiến Do Thái - Palestine. Từ năm 1973 đến nay Hoa Kỳ viện trợ cho Do Thái 200 tỉ mỹ kim (theo thời giá năm 2001), và nếu tính các chi phí yểm trợ khác số tiền đó càng cao hơn nữa. Mỗi năm Hoa Kỳ tiêu hằng tỉ mỹ kim tiền thuế của dân tại Trung đông, nhưng hòa bình càng ngày càng xa và Hoa Kỳ vẫn được xem là một người trung gian không lương thiện. Vì quyền lợi của người đóng thuế và để trở thành một lực lượng không thiên vị trong vùng Hoa Kỳ cần xét lại chính sách viện trợ tại Trung đông.

            Có ý kiến cho rằng Hoa Kỳ nên bớt can thiệp vào cuộc tranh chấp Do Thái - Palestine. Thực tế cũng chứng tỏ rằng Hoa Kỳ càng ít xâm lo các phe liên hệ càng dễ đạt đến giải pháp. Chúng ta càng can thiệp các phe liên hệ càng ỷ lại trong khi những kẻ bàng quan nhìn chúng ta như một người cảnh sát quốc tế. Nhưng cũng có ý kiến rằng Hoa Kỳ cần can thiệp, nhưng nên can thiệp một cách không thiên vị để giải quyết cuộc tranh chấp. Một điều không may là chính quyền Bush không thành công khi hành động. Bush đã can thiệp một cách tích cực, nhưng chỉ áp lực phía Palestine và làm cho chính quyền Likud của ông Ariel Sharon hiểu rằng họ không cần nhượng bộ gì ở vùng Tây ngạn cả.

            Chúng tôi ký bản nhận định này, hiểu rằng không phải vì mất cảm tình tại Trung đông mà Hoa Kỳ nên phủi tay ra đi. Chúng tôi nghĩ Hoa Kỳ cần giúp hai bên thương thuyết một giải pháp chấm dứt sự chiếm đóng vùng Tây ngạn bởi người Do Thái. Giải pháp thương thuyết này gồm:

 

1.          Nhìn nhận một ranh giới quốc gia của người Palestine như ranh giới đã đồng ý với nhau tại Taba tháng Giêng năm 2001 để định hình lãnh thổ của một nước Palestine trong hầu hết vùng Tây ngạn và giải đất Gaza (ranh giới này là đường chia cắt giữa Do Thái và vùng Tây Ngạn sông Jordan trước cuộc chiến tranh năm 1967 *)

2.           Quốc tế bảo đảm an ninh của Do Thái bằng cách chấp nhận xây một bức tường ngăn cách theo đường ranh năm 1967 chứ không phải là đường ranh Do Thái đang xây rào chắn.

3.          Quốc tế khuyến khích và giúp đỡ người Palestine thành lập một chính quyền hữu hiệu và có trách nhiệm, nhất là lực lượng an ninh nội bộ, để cai trị đất nước.

           

            Tôi nghĩ những ai quan tâm đến sự công bình và hòa bình thế giới và sự an toàn lâu dài của Mỹ quốc đều thấy ý kiến của quý vị giáo sư và những nhân sĩ nêu trên là những ý kiến khả dĩ có thể thực hiện.

            Mọi người đều có lợi và thế giới có hòa bình.

 

(*) ghi chú của TBN

         

Trần Bình Nam

Jan. 7, 2005

BinhNam@sbcglobal.net

http://www.vnet.org/tbn

 

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn