Hoa Kỳ phải làm gì để phục hồi uy tín trên thế giới?

 

What America Must Do”. Đó là nhan đề của một bài báo đăng trên Tạp chí Foreign Policy số January/February 2008 (www.foreignpolicy.com) đưa ra ý kiến của 12 nhân vật gồm 4 chủ tịch Viện nghiên cứu, 3 giáo sư đại học, 2 giải Nobel, 1 tác giả, 1 nhà báo và 1 chính khách rằng họ nghĩ vị tân tổng thống Hoa Kỳ đắc cử vào tháng 11/2008 sắp tới phải làm gì để phục hồi uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới [1].

** Trần Bình Nam tóm tắt các ý chính **

 

Kenneth Rogoff (giáo sư kinh tế đại học Harvard, nguyên kinh tế gia của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế- IMF)

Tăng thuế năng lượng

Trong bối cảnh thất bại của Hoa Kỳ đối với chính sách môi trường và giải quyết tranh chấp tại Iraq giáo sư Rogoff chủ trương rằng việc đầu tiên vị tổng thống tương lai phải làm là thuyết phục quốc hội tăng thuế đánh vào xăng nhớt. Tăng thuế xăng ít nhất thêm 2 mỹ kim một gallon, đồng thời với việc tăng thuế năng lượng trong ngành sản xuất. Biện pháp này sẽ ảnh hưởng sâu đậm đến tiếng nói của Hoa Kỳ trên thế giới, vì từ trước đến nay Hoa Kỳ chỉ nói mà không làm gì để tiết kiệm năng lượng. Hoa Kỳ không thể thuyết phục Ấn độ và Trung quốc thay đổi chính sách đối với khí thải khi hai nước này cần phát triển kinh tế mà Hoa Kỳ chưa tự áp dụng biện pháp cứng rắn để thay đổi. Thay đổi chính sách năng lượng một cách căn bản (để giảm tiêu thụ dầu mỏ) còn là lời nhắn với thế giới rằng Hoa Kỳ sẽ không vì nhu cầu nhiên liệu mà xâm lăng các nước khác.

          Việc tăng thuế năng lượng còn giúp Hoa Kỳ giải quyết sự thâm thủng ngân sách đang làm cho đồng mỹ kim mất giá. Thuế năng lượng còn giúp giảm thuế các mặt hàng nhu yếu khác và trợ cấp cho những công dân có thu nhập thấp. Tăng thuế năng lượng sẽ làm cho lãnh vực tư tiết kiệm năng lượng và phát huy sáng kiến tìm tòi các nguồn năng lượng thay thế ngoài dầu mỏ.

          Giá xăng cao, Hoa Kỳ giảm mức xài dầu mỏ, giá dầu mỏ trên thị trường quốc tế sẽ giảm. Các nước sản xuất dầu mỏ – nhất là Venezuela và Liên bang Nga – phải điều chỉnh thái độ của họ đối với các vấn đề trên thế giới. Ngược lại các nước nghèo nhập cảng xăng nhớt sẽ cảm thấy nhẹ nhỏm. Đây là cách tái phân phối tài sản hữu hiệu nhất trên thế giới mà không một chương trình nhân đạo nào có thể làm được. Trên thực tế, vị tổng thống Hoa Kỳ còn có nhiều cách khác, nhưng đây có thể là  cách tốt nhất để thay đổi cái nhìn nghi ngờ của thế giới đối với Hoa Kỳ về cả ba mặt chính trị, kinh tế và xã hội. Đương nhiên tăng thuế năng lượng sẽ không được lòng dân – ít nhất lúc đầu - và đòi hỏi vị tổng thống Hoa Kỳ phải có đủ can đảm chính trị.

 

Reza Aslan (tác giả cuốn sách “No God but God: The Origins Evolution, and Future of Islam” và sắp xuất bản cuốn “How to Win a Cosmic War”)

Giải bỏ mặc cảm thánh chiến

Cách đây mấy năm khi đi thăm Iran, ông Aslan thấy dân Iran tin rằng Hoa Kỳ là một nước thần giáo. Điều này dễ hiểu vì chính tổng thống Bush từng nói đến “thánh chiến” chống “ma quỷ”, do đó không phải thế giới Hồi giáo mà ngay một số nước đồng minh với Hoa Kỳ cũng có cảm tưởng chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng sâu đậm bởi các thế lực tôn giáo. Mới đây người ta thấy phái Thiên chúa giáo cực hữu còn muốn mang ảnh hưởng tôn giáo đến các trường quân sự đào tạo sĩ quan Hoa Kỳ.

          Bảy năm chiến tranh chống khủng bố với những lời lẽ đầy mầu sắc tôn giáo của tòa Bạch Cung đã giúp cho kẻ thù của Hoa Kỳ chất liệu để tuyên truyền rằng cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ chỉ là một cuộc thánh chiến chống Hồi giáo.

          Cuộc đấu tranh nào cũng cần lời lẽ để biện minh, nhưng trong một cuộc chiến tranh mà một bên khai thác yếu tố tôn giáo quá khích và bên kia cũng làm vậy thì kết quả thật là bi thảm. Khi tổng thống Bush dùng chữ “crusade” (thánh chiến) để diễn tả cuộc chiến tranh hiện nay, Osama bin Laden không bỏ lỡ cơ hội tuyên bố rằng, “không còn nghi ngờ gì, chính ông Bush đã nói cuộc chiến tranh này là một cuộc thánh chiến”.

          Cho nên theo ông Aslan vị tổng thống sắp tới của Hoa Kỳ có nhiệm vụ - bằng lời nói và bằng hành động - giải tỏa Hoa Kỳ ra khỏi vướng mắc này.

 

Philip Stephens (bình luận gia chính trị của tờ Financial Times)

Nâng số thành viên G-8 lên thành G-13

Ông Stephens nghĩ vị tổng thống Hoa Kỳ sắp tới nên đề nghị nâng số quốc gia trong khối các nước có kinh tế mạnh từ 8 lên 13 và tuyên bố yêu sách này trong diễn văn nhậm chức, và rằng Hoa Kỳ chỉ trở lại họp hằng năm của khối khi 5 nước Brazil, Trung quốc, Ấn độ, Mexico và Nam Phi được mời vào khối. Hành động này chứng tỏ với thế giới rằng Hoa Kỳ, lần đầu tiên kể từ thế kỷ 19, thay đổi lối nhìn địa lý chính trị trên thế giới, và có khả năng thay đổi cấu trúc quyền lực của thế giới.

          Ông Stephens tin rằng Hoa Kỳ sẽ không phải chờ lâu, và 5 nước đang lên sẽ có cơ hội chen vai thích cánh với các thế lực của thế kỷ 20 để cùng giải quyết các vấn đề chung của thế kỷ 21, như tu sửa các định chế thế giới lỗi thời thành hình sau Thế chiến II như Quỹ Tiền tệ Quốc Tế (International Monetary Fund), Ngân hàng Thế giới (World Bank), và Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.

          Sự thay đổi cấu trúc của các cơ chế thế giới này sẽ làm cho ảnh hưởng của Hoa Kỳ giảm bớt dù Hoa Kỳ vẫn còn là đệ nhất siêu cường, nhưng sẽ làm cho Hoa Kỳ thu phục được cảm tình của thế giới. Chính sách này giúp Hoa Kỳ tránh được sự điều chỉnh liên tục để cân bằng các trung tâm quyền lực trên thế giới như Hoa Kỳ đã làm đầu thế kỷ 20 đưa đến Thế giới chiến tranh I. Khi các thế lực đang lên có vị trí đúng chỗ trên bàn cờ quốc tế, thế giới sẽ được ổn định hơn.

 

Lessica T. Mathews (Chủ tịch Quỷ Carnegie vì Hòa bình thế giới)

Hãy nói chuyện với Syria

Mặc dù Syria không đóng vai trò gì quá quan trọng đối với các vấn đề liên quan đến Iraq, Liban, Iran và Do thái – Palestine, Syria có khả năng làm hỏng mọi giải pháp đối với các quốc gia này vì Syria có biên giới chung với Do thái, Iraq, Liban và vùng đất người Kurds của Thổ Nhĩ Kỳ và có quan hệ tốt với chính phủ Iran. Chúng ta có quyền nghi ngờ tổng thống Bashar al-Assad về những vụ ám sát chính trị ở Liban và tham vọng nguyên tử của ông ta, nhưng về một mặt nào đó Syria có những đóng góp đáng kể tại Trung đông như mở tòa đại sứ tại Baghdad, nhận hơn một triệu người tị nạn Iraq, tham dự hội nghị Annapolis mới đây bàn về một giải pháp hòa bình giữa Do thái và Palestine, và ngăn cản quân khủng bố vượt biên giới vào Iraq.

          Thế nhưng tổng thống Bush vẫn không chịu nói chuyện với Syria làm cho mối hiềm khích giữa hai quốc gia càng ngày càng tăng (cũng như đối với Cuba và Iran) và ông Mathews nghĩ vị tổng thống tương lai nên nắm lấy bàn tay của Syria. Syria từng tuyên bố rằng sẽ đến bàn thương thuyết với Hoa Kỳ không có điều kiện tiên quyết và đến với tất cả những gì Syria có, kể cả các mối quan hệ hiện hữu của Syria. Điều này có nghĩa Syria sẵn sàng thay đổi quan hệ đối với các nhóm Hamas, Hezbollah và Iran nếu cần.

          Chính phủ Bush thường nêu ra hai lý do để không chịu thương thuyết với Syria. Thứ nhất, Syria không xứng đáng với phần thưởng được nói chuyện tay đôi với Hoa Kỳ. Lý do này không ổn vì Hoa Kỳ từng thương thuyết với Lybia và Bắc Hàn thì sao? Lý do thứ hai là các sự khác biệt về quyền lợi giữa hai nước quá lớn, có nói chuyện với nhau cũng không đi tới đâu. Nhưng chưa thử nói chuyện thì làm sao biết? Có ai dám quả quyết Syria đặt quan hệ với Iran trên quan hệ đối với Hoa Kỳ và Âu châu.

          Nếu Hoa Kỳ tuyên bố không định tâm lật đổ chế độ của tổng thống Assad thì cuộc thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Syria có cơ thành tựu và là một làn gió mát cho Trung đông.

 

Yang Jianli (Chủ tịch “Foundation for China” thế kỷ 21. Ông Yang Jianli bị Bắc kinh tố cáo xúi dục công nhân tạo bất ổn xã hội và ngồi tù 5 năm, được trả tự do tháng 4/2007)

Hội chứng Trung quốc

Ông Yang Jianli nói nhiều người cho rằng ảnh hưởng và uy tín Hoa Kỳ đã bị sứt mẻ nhiều, nhưng ông chưa vội kết luận như vậy. Tuy nhiên ông Jianli nghĩ rằng Hoa Kỳ đôi khi “tiền hậu bất nhất”. Hoa Kỳ lập quốc trên các nguyên tắc tôn trọng tự do, dân chủ và các quyền căn bản của con người, nhưng vì quyền lợi trước mắt Hoa Kỳ thường tạm bỏ qua các nguyên tắc cố hữu đó.

          Sau vụ đàn áp Thiên An Môn năm 1989 chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung quốc lúc thế này lúc thế khác. Hôm nay Hoa Kỳ có thể dùng nhân quyền để làm đòn bẩy trong các cuộc thương thuyết mậu dịch với Trung quốc, ngày mai Hoa Kỳ có thể nại ra hàng ngàn lý do để biện minh rằng không nên làm như vậy. Nhiều người cho rằng dùng nhân quyền áp lực Trung quốc chỉ làm cho nhân dân (Trung quốc) ghét Hoa Kỳ. Thực tế, nếu có một thành phần dân chúng Trung quốc không ưa Hoa Kỳ là vì Hoa Kỳ hành động theo quyền lợi mà không theo nguyên tắc. Hoa Kỳ thường nói mà không hành động làm cho nhân dân Trung quốc nghĩ rằng các chính khách và các nhà kinh doanh Hoa Kỳ là những nhà đạo đức giả.

          Ông Jianli nói ông không chủ trương không buôn bán với Trung quốc, nhưng ông chán thái độ bất nhất của Hoa Kỳ. Ông nghĩ điều mà vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ cần làm là chứng tỏ rằng chính sách nhân quyền của Hoa Kỳ đối với Trung quốc là điều không thể đổi chác được. Hoa Kỳ cần áp lực Trung quốc tôn trọng nhân quyền trong bất cứ cuộc thương thuyết nào, và tích cực giúp đỡ những người đấu tranh cho dân chủ trong và ngoài nước (Trung quốc) để họ có cơ hội kiến tạo một chế độ dân chủ tại Trung quốc. Hoa Kỳ cần thúc đẩy Trung quốc tổ chức các cuộc bầu cử địa phương (thật ra chính quyền trung ương Trung quốc cũng muốn tổ chức các cuộc bầu cử này để giải quyết nạn tham nhũng và sự lạm dụng quyền lực ở cấp xã huyện, nhưng chưa quyết tâm thực hiện thôi).

          Chủ trương dân chủ và nhân quyền có thể tạo ra một số phản ứng bởi các nhà độc tài trên thế giới, nhưng nếu chỉ nói tôn trọng dân chủ và nhân quyền mà không làm gì cả thì sẽ mất sư kính trọng của cộng đồng thế giới.

 

Newt Gingrich [Chủ tịch Hạ nghị viện từ 1995 đến 1999, hiện là thành viên chính yếu của AEI (American Enterprise Institute), một cơ sở cực hữu của Hoa Kỳ. Ông là đồng tác giả của cuốn “A Contract With the Earth” xuất bản năm 2007]

Hãy biết lắng nghe

Trong bảy năm qua thế giới có cảm tưởng Hoa Kỳ không muốn nghe ai, và điều này làm suy giảm khả năng lãnh đạo của Hoa Kỳ. Ông Gingrich nói nguyên tắc cố hữu của lãnh đạo (tầm vóc quốc tế hay quốc gia) là biết lắng nghe các quan điểm khác biệt, vì vậy ông chủ trương rằng điều quan trọng nhất của vị tổng thống tương lai là nói với bạn lẫn thù rằng Hoa Kỳ sẽ biết lắng nghe. Vị tổng thống đắc cử, trước ngày nhậm chức nên đi thăm các thủ đô trên thế giới, không phải chỉ là Paris, London, mà là Ankara, Amman, Bắc Kinh và Cairo. Còn nữa, hãy đến thủ đô các nước khác ở Nam Mỹ, Trung Đông, Âu châu và Á châu.

          Đi, không phải để chứng tỏ sức mạnh của Hoa Kỳ mà chỉ cần đến để hỏi và nghe họ nói. Hỏi rằng quý vị nghĩ Hoa Kỳ nên làm gì để phục vụ thế giới với sức mạnh kinh tế, quân sự và văn hóa của mình, và trong bốn năm tới họ sẽ làm gì chung với Hoa Kỳ để thực hiện những điều họ muốn.

Nghe, không có nghĩa là đồng ý. Nghe là một hình thức tôn trọng quan điểm của nhau. Chỉ cần biết hỏi và biết nghe nhau thế giới sẽ thông cảm nhau hơn. Và nếu chuyến công du thành công Hoa Kỳ sẽ có cơ hội xây dựng những liên minh lành mạnh để xiển dương quyền lợi chung tạo hòa bình thế giới.

          Mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ không thay đổi, nhưng cách thực hiện chiến lược đó thay đổi. Nếu vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ có thể chuyển đổi cảm tưởng hiện nay của thế giới rằng Hoa Kỳ là một siêu cường bị bệnh điếc, thì có cơ may thế giới dân chủ sẽ chấp nhận sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.

 

Kavita Ramdas (Chủ tịch kiêm giám đốc Global Fund for Women)

Hãy xiển dương thế đứng của người phụ nữ trên toàn thế giới

Bà Ramsas cho rằng bảy năm với một chính sách sai lầm đã làm cho uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới suy giảm trầm trọng, không thể một sớm một chiều thay đổi được, tuy nhiên thế giới vẫn còn ngoãnh nhìn vào Hoa Kỳ với một hy vọng.

          Điều Hoa Kỳ cần làm là thay đổi thái độ một cách căn bản, huy động tất cả khả năng của mình để mang lại quyền bình đẳng cho người phụ nữ trên toàn thế giới. Và đó là điều tân tổng thống Hoa Kỳ nên bắt đầu ngay sau khi nhậm chức.

          Nhiều người cho rằng còn nhiều việc quan trọng hơn phải làm trước. Nhưng vấn đề phụ nữ có một ưu tiên cao. Giải quyết vấn đề bình quyền cho phụ nữ sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề trọng đại khác mà thoáng qua chúng ta tưởng rằng không liên hệ với nhau. Trong thập niên qua trong các nước phát triển, số phụ nữ đi làm việc đã giúp nâng mức tăng trưởng trên thế giới nhiều hơn sự đóng góp của Trung quốc. Và trong các nước nghèo sự giáo dục phụ nữ đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nhiều hơn bất cứ một chính sách nào khác. Thống kê cho thấy, trong các nước đang phát triển, cứ một người phụ nữ được học đến cấp 4 thì gia đình của bà ấy sẽ ít con hơn (20%) và số trẻ sơ sinh chết giảm 10%. Và cứ một người phụ nữ học đến cấp 5 thì bà ấy có triển vọng 50% tránh nhiễm vi trùng HIV/AIDS.

          Phụ nữ tham gia chính trị giúp hoạch định những chính sách cân đối hơn. Thí dụ ở Rwanda, gần một nửa số dân biểu quốc hội là phụ nữ, quốc gia Phi châu này có một chế đổ bảo hiểm sức khỏe khá hoàn hảo. Tại các nước Scandinavia (Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch) số phụ nữ hoạt động chính trị đông đảo đã làm cho các nước này đầu tư nhiều tài nguyên vào các chương trình giáo dục và huấn nghệ. Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) sự tham gia chính trị của người phụ nữ giúp giảm bớt nạn tham nhũng.

          Bà Kavita Ramsas không ước mong gì hơn vị tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1/2009- 1/2013 sẽ mang thông điệp nam nữ bình quyền đến bất cứ nơi nào thăm viếng hoặc mang ra bàn luận với các nhà lãnh đạo các nước bạn đến viếng Hoa Kỳ.  Nội bộ, tổng thống hãy yêu cầu quý vị thống đốc, thị trưởng quan tâm báo cáo về các chương trình dành cho người phụ nữ. Bà Ramsas không lạc quan nghĩ rằng sau 4 năm Hoa Kỳ có thể chấm dứt tình trạng bất bình đẳng nam nữ trên thế giới, nhưng nếu nỗ lực của Hoa Kỳ làm cho đời sống của hàng triệu người dễ thở hơn thì đó là một trong những điều giúp cải thiện tư thế của Hoa Kỳ trên thế giới.

 

Nadine Gordimer (giải thưởng văn chương Nobel năm 1991)

Chấm dứt phong tỏa kinh tế Cuba

Ông Gordimer nói trước mắt có nhiều việc vị tổng thống tới của Hoa Kỳ cần làm, thí dụ đối sách đối với Iraq, Iran, Do Thái – Palestine, độ nóng của khí quyễn… Vì vậy ông Gordiner chọn một đề nghị khiêm nhượng nhất: Hãy chấm dứt phong tỏa kinh tế Cuba!

          Tháng 10 năm 2007 Cuba đệ trình Đại hội đồng Liên hiệp quốc dự thảo quyết nghị thứ 16 yêu cầu Liên hiệp quốc chỉ thị Hoa Kỳ chấm dứt phong tỏa kinh tế, thương mãi và  tài chánh đối với Cuba. Sự phong tỏa này làm thiệt thòi cho kinh tế Cuba mỗi năm hằng trăm triệu mỹ kim. Năm 2006 số tổn thất mậu dịch lên đến 1.3 tỉ mỹ kim. Cũng trong năm 2006, 183 quốc gia ủng hộ dự thảo quyết nghị của Cuba, nhưng Hoa Kỳ không thay đổi thái độ.

          Nhà văn Gordimer mong ước vị tổng thống tới của Hoa Kỳ duyệt xét lại chính sách đối với Cuba và ra lệnh chấm dứt phong tỏa kinh tế quốc gia này. Hành động này sẽ đóng góp vào việc cải thiện uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới.

 

Jorge  I. Dominguer [Phân khoa phó phân khoa Bang giao Quốc tế (International Affairs) đại học Harvard, người giữ mục Bang giao Quốc tế của Tạp chí Foreign Policy]

Hãy tôn trọng nội dung bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ

Bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ cam kết tôn trọng ý kiến của nhân loại, rằng Hoa Kỳ không chủ trương ý kiến của mình luôn luôn đúng, và Hoa Kỳ tin tưởng tự do không có nghĩa mọi người phải đi cùng một con đường. Một trong những lý do người Anh di dân tại lục địa Hoa Kỳ đứng lên tranh đấu giành độc lập vì hoàng đế nước Anh đã không cho thi hành những luật lệ mang đến phúc lợi cho con dân Anh tại đó.

          Giáo sư Dominguez bức xúc khi thấy hôm nay Hoa Kỳ coi thường các tiêu chuẩn mậu dịch, coi thường luật lệ quốc tế và nhân quyền mà Hoa Kỳ thường xuyên kêu gọi các nước khác tôn trọng. Vì vậy giáo sư Dominguez mong đợi vị tổng thống tới của Hoa Kỳ chấm dứt tình trạng hai mặt (double standard) này.

          Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ đã góp phần xây dựng các cơ chế và luật lệ quốc tế. Tuy nhiên trong thập niên qua Hoa Kỳ đã coi thường sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết nạn khí quyễn nóng dần, việc thiết lập tòa án hình luật quốc tế, và Quy chế Geneva về tù binh.

          Ngoài việc giúp thành hình các cơ chế quốc tế sau Thế chiến II Hoa Kỳ còn là nước cầm đầu ngọn cờ tự do giao thương. Thế nhưng cũng trong thập niên qua Hoa Kỳ thường tránh thi hành những tiêu chuẩn mậu dịch quốc tế đó. Hoa Kỳ ép các nước nhỏ và yếu cất bỏ hàng rào quan thuế, trong khi Hoa Kỳ vẫn bảo vệ nông dân của mình bằng các chương trình trợ cấp.

Lúc này Hoa Kỳ đang trong quá trình bầu chọn vị tổng thống cho nhiệm kỳ 2009-2012, Hoa Kỳ hẳn không muốn nước nào xía vào sự lựa chọn của nhân dân Hoa Kỳ, vì vậy Hoa Kỳ cũng không nên chỉ bảo dân các nước khác chọn người lãnh đạo của họ. Thái độ này chỉ làm sứt mẻ uy tín Hoa Kỳ. Ông Evo Morales đắc cử tổng thống Bolivia trong cuộc bầu cử năm 2202 một phần vì trước ngày bầu cử đại sứ Hoa Kỳ tại Bolivia công khai tố cáo ông làm cho dân Bolivia bực bội và dồn phiếu cho ông ta.

          Tra tấn và trấn nước là những việc làm không thể chấp nhận được đối với một quốc gia từng tố cáo Việt Nam, Bắc hàn đối đãi tàn nhẫn với quân nhân Mỹ. Hoa Kỳ cần chấm dứt việc tra tấn tù binh vì hẳn Hoa Kỳ không muốn thấy công dân mình bị tra tấn trong bất cứ hoàn cảnh nào.

          Vị tổng thống tới nên làm bất cứ gì để luật lệ và cơ chế quốc tế được tôn trọng. Phải làm sao để những gì chúng ta mong muốn thế giới làm (hay không nên làm) cũng là những tiêu chuẩn cho hành động của chúng ta. Giáo sư Dominguez kết luận: Nếu Bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ cam kết giữ gìn cái “danh dự linh thiêng” (của Hoa Kỳ) thì nền ngoại giao Hoa Kỳ tối thiểu cũng phải cam kết như vậy.

 

Dmitri Trenin (Phó giám đốc Carnegie Moscow Center, tác giả cuốn Getting Russia Right)

Hãy đi Teheran

Ông Dmitri Trenin nói chìa khóa Trung đông nằm ở Teheran, và vị tổng thống tới của Hoa Kỳ nên dùng chiếc chìa khóa đó để mở cửa hòa giải với Trung đông. Cho đến giờ này Hoa Kỳ chưa có một chính sách tích cực đối với Iran, trái lại Hoa Kỳ lớn tiếng tố cáo tham vọng nguyên tử của Iran và rằng Iran đứng sau lưng các tổ chức khủng bố Hamas và Hezbollah. Thật ra Iran ráng chế tạo vũ khí nguyên tử không phải để tự sát bằng vũ khí nguyên tử. Iran có thể chỉ muốn được thế giới công nhận vị trí của mình tại Trung đông và làm những gì cần thiết để đạt mục đích đó dù Hoa Kỳ muốn hay không muốn.

          Tân tổng thống Hoa Kỳ cần đánh một đòn ngoại giao ngoạn mục như tổng thống Nixon đã làm cách đây 35 năm khi bay đi Bắc Kinh biến Trung quốc từ thù thành bạn và làm cho Mạc Tư Khoa – đối thủ chính trong trận chiến tranh lạnh - chới với. Tổng thống Hoa Kỳ đến Teheran đưa tay hòa giải sẽ là một đòn chí tử cho al-Qaeda và các thế lực gây rối trong vùng Trung đông và làm cho Iran không thấy cần phải xúc tiến việc chế tạo bom nguyên tử.

          Không như các nước Trung đông khác lập quốc trong thế kỷ 20, Iran là một nước đã lập quốc lâu đời (chỉ sau Trung quốc), và trong lịch sử dài dằng dặt Iran từng thay đổi chính thể. Hôm nay Iran có nhiều khả năng thay đổi chính thể do các động lực bên trong vì giới trẻ sinh ra sau cuộc cách mạng Hồi giáo của giáo chủ Ruhollah Khomeini (1979) bắt đầu chán chế độ. Nhiều nhà quan sát Nga nhận xét rằng Iran hôm nay giống như Liên bang Xô viết dưới thời Leonid Breznev, nghĩa là đang ở điểm cuối của màn sau cùng. Du khách Hoa Kỳ nhận thấy rằng chính quyền Iran chửi Mỹ nhưng dân chúng Iran thích mọi thứ gì có nhãn hiệu Mỹ giống như xã hội Nga thời Breznev.

          Ông Dmitri Trenin tin rằng nếu Hoa Kỳ đưa tay ra với lời hứa hẹn thôi phong tỏa kinh tế, thôi dọa đánh, và công nhận chương trình nguyên tử phục vụ hòa bình của Iran thì Iran sẽ đưa hai tay nắm lấy và xếp lại chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử của mình. Nửa thế kỷ trước đây Nikita Khrushchev huênh hoang tuyên bố sẽ “chôn” Hoa Kỳ và đã mang vũ khí nguyên tử đến Cuba sát nách Hoa Kỳ, tổng thống Kennedy vẫn đủ sáng suốt nhận ra rằng để bảo vệ nước Mỹ ông không có đường nào khác hơn là nói chuyện với Mạc Tư Khoa.

          Hôm nay Hoa Kỳ cần hành động như vậy dù Iran đang khoác lác. Chờ đến lúc Iran có hỏa tiễn nguyên tử thì quá muộn.

 

Fouad Ajima (giáo sư về Trung đông tại School of Advanced International Studies, đại học John Hopkins University)

Hãy tiếp tục con đường của tổng thống Bush

Giáo sư Fouad Ajima nhận xét rằng tổng thống Pháp Jacques Chirac chê Hoa Kỳ đã làm hỏng mọi chuyện tại Trung đông, nhưng người kế nhiệm ông, tổng thống Nicolas Sarkozy tháng 11/2207 vừa qua đã đến Hoa Kỳ và hết lời khen ngợi Hoa Kỳ đã làm những gì có thể làm.

          Với nhận xét đó giáo sư Fouad Ajima nghĩ rằng người kế vị tổng thống Bush sẽ thừa kế sự nghiệp của ông, đó là một Âu châu thân thiện với Hoa Kỳ, một Ấn độ và một Trung quốc chỉ muốn gởi con em mình đến thụ huấn tại Hoa Kỳ, những kẻ quá khích mất dần chỗ đứng và hằng triệu người trên thế giới thoát khỏi cảnh nghèo đói. Thời đại này là một thời đại hòa bình như Hoa Kỳ quan niệm (Pax Americana), một thời đại chống Mỹ một cách giả trá và ngụy tạo, thời đại của những nhà trí thức và học giả giả dối, núp dưới bóng mát Hoa Kỳ để chửi Hoa Kỳ. Giáo sư Fouad Ajima nói các bạn cứ tin rằng sau thời đại huy hoàng này (của Bush) sẽ không có gì tươi đẹp hơn như các bạn trông chờ. Sẽ giống như thời kỳ đen tối sau thời đại La Mã thôi.

          Giáo sư Fouad Ajima nói vị tổng thống tương lai không có gì để làm thêm về mặt đối ngoại, và hài hước rằng người ta sẽ tiếp tục than vãn về sức mạnh của Hoa Kỳ, các cuộc thăm dò sẽ nói Karachi và Cairo chán Hoa Kỳ, và trong khi các nguồn thông tin quốc tế nói dư luận khắp nơi chống Mỹ thì hằng triệu người tìm cách đến Mỹ!

          Ông Ajima nghĩ rằng chiến dịch “ngoại giao cho tự do” của tổng thống Bush tại Trung đông đã mang đến cho Iraq một trật tự mới, giúp Liban thoát khỏi sự kiềm tỏa của Syria, và dù chưa tạo sự thay đổi lớn lao nào tại Ai Cập và Saudi Arabia cũng là một thông điệp mạnh mẽ rằng tại Trung đông không phải chỉ có độc tài chuyên chế mà còn có triển vọng tự do, và đó là món quà quý báu tổng thống Bush tặng cho người A Rập. Nó nhắc nhở nguyên tắc dân tộc tự quyết của tổng thống Woodrow Wilson. Và cũng như chủ thuyết Wilson, chủ thuyết gieo rắc tự do của tổng thống Bush tại Iraq, Liban và các nơi khác sẽ đến rồi đi, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn tồn tại như một giá trị đích thực của Hoa Kỳ. Trên căn bản đó giáo sư Fouad Ajima nhắn với vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ rằng người lãnh đạo nào không tiếp tục đường lối của tổng thống Bush chỉ làm cho Hoa Kỳ co mình lại mà thôi.

 

Desmond Tutu (Tổng giám mục danh dự của Anh giáo, giải thưởng hòa bình Nobel năm 1984)

Hãy cất lời xin lỗi

 Trong quá khứ có những chính sách Hoa Kỳ làm người ta khó chịu, thí dụ khi tổng thống Reagan hợp tác với chính phủ kỳ thị Nam Phi, ông tổng giám mục bất mãn nhưng không vì thế ông chống Mỹ. Bằng chứng rõ hơn là sau vụ 911 cả thế giới chia sẽ đau thương một cách chân tình với nhân dân Hoa Kỳ.

          Nhưng gần đây thế giới trở nên bi quan do chính sách tự cô lập của Hoa Kỳ. Chính quyền của tổng thống Bush đã không có thái độ hợp tác quốc tế về khí thải nhà kiếng, về sự thiết lập tòa án hình luật quốc tế, trong khi thiết lập nhà tù tại Guantanamo ở Cuba. Và sau cùng là xâm lăng Iraq không có phép của Liên hiệp quốc vi phạm luật quốc tế.

          Tổng giám mục Desmond Tutu nói, câu khó nói nhất trong mọi ngôn ngữ là: “Chúng tôi sai lầm. Chúng tôi xin lỗi. Hãy tha thứ cho chúng tôi.” Nhưng mấy chữ đó có sức mạnh hóa giải một tình thế căng thẳng. Không biết vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ có đủ tầm nhìn, sức mạnh tinh thần và sự khiêm nhượng cần thiết để sửa chữa sai lầm không?

          Hoa Kỳ có một quá khứ rộng lượng ai cũng cảm phục. Nhân dân Tây Âu không quên chương trình Marshall sau Thế chiến II (giúp họ ra khỏi đói nghèo và đủ sức tự vệ). Lịch sử Hoa Kỳ chứng tỏ rằng Hoa Kỳ đã làm gương cho hằng triệu người lăn xả vào cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và tìm một đời sống tốt đẹp hơn.

          Tổng giám mục Desmond Tutu kết luận, nếu siêu cường này đủ uyển chuyển và khiêm nhượng thốt lên lời xin lỗi thì mọi người trên hoàn vũ sẽ ngạc nhiên, nhưng sẽ mĩm cười thoải mái biết rằng mùa Xuân đang ló dạng trên thế giới./.

 

Trần Bình Nam thuật

Jan. 8, 2008

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

 

[1] Bản Anh ngữ:

 

 

What America Must Do

(Foreign Policy Jan./Feb. 2008)

 

Step on the Gas

By Kenneth Rogoff   

 

Future historians will almost certainly regard the failure of the United States to lead in global environmental policy as an even greater mistake than the invasion of Iraq. The first thing the next American president should do upon taking office is to insist that the U.S. Congress pass a huge increase in gas taxes. To be more precise, the United States should implement steep carbon taxes that hit coal, heating oil, and natural gas. The tax should be enough to raise the price of gasoline by at least $2 a gallon. But unlike Europe’s consumer-oriented gasoline tax, it should hit everyone in the economy, including manufacturers.

No other specific policy action will be half as effective in changing America’s engagement with the world. No other presidential directive would so clearly disown the United States’ record of lamentable and self-centered head-in-the-sand energy policies. There is no way the United States can hope to persuade China and India to adopt more environmentally friendly growth strategies without first acknowledging its own responsibility—and then doing something about it. At the same time, a carbon tax might finally convince the rest of the world that the United States does not aim to invade countries to preserve cheap oil.

Such a tax would raise massive revenues that will help reduce current and prospective U.S. deficits. The revenues would help ease the pressure that excessive American borrowing is putting on international capital markets, pressure that is now contributing to a dangerous collapse of the dollar. Of course, some of the new tax revenue should be earmarked for scaling back other taxes and for providing subsidies to low-income citizens to offset the burden of the carbon tax. It also demonstrates the right way to provide the private sector with incentives to conserve fuel and develop alternative energy sources. It is far better than the complex and inequitable carbon trading schemes that Europeans are trying to implement.

Yes, oil-exporting countries will protest that a U.S. carbon tax is aimed squarely at them, and indeed, they will see a drop in demand for their product. Venezuela and Russia will have to figure out how to get by with lower oil revenues. But many poor developing countries will see huge cuts in their oil import bills as world petroleum prices fall. The effective transfer of wealth would be far larger than anything that private or public philanthropy could provide.

There is no doubt that there are many other symbolic gestures a new president can make, but a carbon tax would cut to the heart of what’s wrong with America’s place in the world today—politically, economically, and socially. Let’s not kid ourselves: Taxing gas and other carbon emissions will be wildly unpopular among American voters, at least at first. Many will say it is a political nonstarter. But that is precisely why children everywhere will be so grateful that a courageous American president will have finally put the United States back on its proper fiscal—and moral—track.

(Kenneth Rogoff is professor of economics at Harvard University and former chief economist of the International Monetary Fund.)

 

Holy Orders

By Reza Aslan           

 

A few years ago, I was strolling through the Iranian city of Isfahan when I happened upon a group of teenagers sharing a picnic along the banks of the Zayandeh River. I sat with them for a cup of tea and a smoke from a water pipe perched in the middle of the circle. Catching my accented Persian, one of them asked where I lived.

“I live in America,” I replied.

The conversation suddenly came to a halt. A girl of 17 leaned in and whispered conspiratorially, “What is it like to live in a theocratic state?”

That a young person living in the only country in the world in which the religious leaders are also the political authorities could believe, in all earnestness, that the United States has become a theocracy should be all the evidence Americans need that the so-called war on terror has corrupted America’s image abroad. From the moment U.S. President George W. Bush launched what he called “a crusade” against “evil-doers,” there has been a growing sense, not just in the Muslim world but among even our closest allies, that U.S. foreign policy is being filtered through an unprecedented union of religious and political ideology. That impression has been strengthened recently by disturbing revelations of proselytizing and religious harassment by evangelical Christian faculty at U.S. military academies.

Although politicians can perhaps be forgiven for using religiously tinged language to appeal to Americans’ innate sense of moral righteousness, it bears noting that the United States is embroiled in a global conflict with an enemy whose primary goal is to convince the world that the war on terror is in fact a crusade against Islam. Seven years of inflammatory, Manichaean rhetoric about “good and evil” from the White House has only validated that view. It has allowed America’s enemies to frame the scope and supposed meaning of the current conflict against Islamist terrorism.

The next American president must, in both word and deed, aggressively work to strip the war on terror of the overt religious connotations forced upon it by reckless politicians. A reversal of public rhetoric is not the only necessity, but also the swift and public condemnation of those who dare to promote a religious agenda in this global conflict, such as members of the U.S. military (like Lt. Gen. William Boykin, who has called the war on terror a “spiritual battle” against a “guy called Satan”), politically influential religious leaders (such as the Rev. Franklin Graham, son of Billy, who publicly called Islam “an evil and wicked religion”), and polarizing politicians (such as Rep. Tom Tancredo, who recently suggested bombing Mecca and Medina).

It goes without saying that in a war of ideas—which, make no mistake, is what we are fighting—our most potent weapons are our words. In a conflict as charged with religious fanaticism as this, even the appearance of religious motivation can have disastrous consequences. Just ask Osama bin Laden. “Bush left no room for doubts,” he announced a few years ago. “He stated clearly that this war is a Crusader war. . . . The odd thing about this is that he has taken the words right out of our mouths.” And when bin Laden agrees with you, it’s time to rethink the message.

Reza Aslan is author of No God but God: The Origins, Evolution, and Future of Islam (New York: Random House, 2005) and the forthcoming How to Win a Cosmic War (New York: Random House, 2008).

(Reza Aslan is author of No God but God: The Origins, Evolution, and Future of Islam (New York: Random House, 2005) and the forthcoming How to Win a Cosmic War (New York: Random House, 2008.)

 

A Table for Thirteen

By Philip Stephens    

 

The first international act of the 44th president of the United States must be unilaterally multilateralist. George W. Bush’s successor should announce in his or her inaugural State of the Union Address that the United States will no longer attend meetings of the Group of Eight (G-8) nations until the group adds five more seats to the table. Only if and when the G-8 is reconstituted as the G-13—adding Brazil, China, India, Mexico, and South Africa as full participants—will the leader of the world’s most powerful nation return to the world’s most prestigious club.

At first glance, the initiative could be mistaken as a retreat from the foreign entanglements that have dogged the Bush presidency: a decision by the White House to pull up the drawbridge after the costly interventions of the past seven years. In reality, it would be the opposite: a far-sighted acknowledgment that we are witnessing the most profound shifts in the geopolitical landscape since the 19th century. It would be a recognition that the United States, still the preeminent but now insufficient power, has but one chance to design the architecture for a new global system.

The American president’s chair would not be empty long. Jealous of their own invitation to the world’s top summit, the other present members of the G-8—Britain, Canada, France, Germany, Italy, Japan, and Russia—would fall over themselves to endorse the president’s plan. Thus the rising powers of the 21st century would for the first time join those of the 20th as equals at the same table. In mid-2009, the G-13 would convene as the first international institution to reflect the emerging geopolitical balance of the new century.

This summit, however, would only be the beginning of a bigger enterprise. At the invitation of the president, the first task of the newly constituted G-13 would be to remodel the international institutions created by the United States at the end of World War II to fit the new patterns of global power. The newcomers, in the words of World Bank President Robert Zoellick, would be invited to become “responsible stakeholders” in the international system. The process would begin with a reallocation of voting rights at the International Monetary Fund and World Bank and end, eventually, with the expansion of the U.N. Security Council.

The next American president takes office amid the return to the global arena of great-power competition. Inevitably, the United States faces a decline in its relative power even as its economic and military might likely remain unmatched by any other nation for decades to come. The choice for the White House will be between attempting to manage the new rivalries or playing the balancing strategies that led Europe into war in the opening decades of the last century. With wisdom, Washington can retain leadership even as its relative position weakens.

For all the anti-Americanism stirred by the policies of President Bush, U.S. leadership, especially when measured against the alternatives, remains an attractive state of affairs for much of the world. But to be effective, it must be inclusive and seek to reclaim the legitimacy bestowed by an international system based on rules.

(Philip Stephens is chief political commentator at the Financial Times.)

 

Open the Door To Damascus

By Jessica T. Mathews          

 

Syria is not the key to resolving any of the Middle East’s crises—not Iraq, Lebanon, Israel-Palestine, or Iran—but it has the power to stymie progress on all of them. Geography alone makes Syria, with its borders with Israel, Iraq, Lebanon, and the Kurdish region of Turkey, central to Middle East peace. Add to that the long-standing, albeit highly unusual, relationship between the secular Sunni regime in Damascus and the Shiite mullahs in Tehran, and Syria’s importance is indisputable.

Of course, there are plenty of reasons to view President Bashar al-Assad’s regime with suspicion. Syrian-backed assassinations have taken Lebanon to the brink of collapse, and Israeli airstrikes recently raised rumors of a secret nuclear program. But consider that the same government has opened an embassy in Baghdad, taken in more than a million Iraqi refugees, made an appearance at the Annapolis Middle East peace conference, and appears to have cracked down on the passage of foreign terrorists into Iraq in recent months. Yet, Washington has slammed the door on the possibility of a relationship.

The Bush administration’s “they know what they need to do” school of diplomacy, demanding its own desired outcomes as preconditions for talks, has failed utterly with the Syrians, as it has everywhere else. From Cuba to Iran, shunning regimes the United States doesn’t like has never achieved anything other than the deepening of mutual mistrust. That’s why it’s time for the next president to reopen the road to Damascus.

Syria has signaled for several years that it wants a relationship with the United States. A year ago, Assad’s top legal advisor reportedly told participants at an international gathering that “negotiations mean that we will come to the table with all that we are and all that we have, including our relationships.” Translation: Syria is willing to trade on its influence with Iran, Hamas, and Hezbollah, among others. Both Syria’s foreign minister and its ambassador to the United States have been explicit that Syria is ready for talks without preconditions.

So, what is Washington waiting for? Strip away all the hot air, and there are only two arguments being made against active diplomacy with Syria. One is that talking to the United States is a “reward” that Damascus hasn’t earned. That is a specious argument that is equal parts self-fulfilling and self-defeating. The United States has routinely negotiated with despicable regimes when there is something it really wants; look no further than the Bush administration’s dealings with Libya and North Korea.

The second argument is that diplomacy will fail because Washington’s and Damascus’s interests are so opposed. This assertion is unknowable until it is tested. Foretelling the outcome of negotiations before they happen is a fool’s errand. Who can possibly say today whether Syria prefers its ties to an isolated Iran to an economically robust relationship with the United States and Europe?

There would be one precondition a new president would have to meet to launch serious discussions with Damascus: take the threat of regime change off the table. That in itself would have beneficial ripple effects across the region. Whatever else might result won’t happen overnight. But there is enough to be gained, and enough reason to think success might be achieved, that an opening to Damascus belongs on the next president’s agenda.

(Jessica T. Mathews is president of the Carnegie Endowment for International Peace.)

 

The China Syndrome

By Yang Jianli           

 

Many people think that the United States’ influence has waned and its image has been tarnished. I have yet to arrive at the same conclusion. Since I was released from a Chinese prison in April 2007, having served five years for investigating labor unrest, I have spoken to a great number of people around the world about this very topic. In my mind, the United States remains a great country, and its people a great people. It continues to be the only global force with the authority to promote democratization and safeguard freedom and security.

I do believe, however, that the United States has a consistency problem. It is a country that was founded on the principles of freedom, democracy, and certain inalienable rights of the common people, but the desire to meet short-term interests tends to compromise faithfulness to these principles. That inconsistency weakens American credibility.

Since the violent crackdown on protesters in Tiananmen Square in 1989, U.S. policy toward China has been fickle, even erratic. One day, trade is used as leverage to promote human rights in China, and the next day a thousand reasons are given why that leverage should not be used. Many people wrongly assume that pressuring the Chinese government on human rights triggers ill will toward Americans on the part of ordinary Chinese citizens. In fact, it is the United States’ constant seesawing that reinforces the popular belief that Americans only act for their own material gain. The lofty statements followed by inaction have led the Chinese people to conclude that some American politicians, scholars, and businesspeople are hypocrites. Their self-imposed censorship when dealing with the Chinese government is disappointing. I have never opposed trading with China, but I cannot support a policy that is so wholly inconsistent.

The next American president can take concrete steps to demonstrate that U.S. policy on China cannot be bought and sold. Human rights conditions, no matter how small, should be attached to every issue the United States brings to China. Little by little, the United States must push for change. The administration should systematically and publicly engage Chinese democrats both within and outside China, with the long-term goal of helping to establish a constitutional democracy. And finally, the United States should push China to hold local elections. Beijing is not wholly opposed to the idea, because it may help diminish the local corruption and abuses of power that the central government is eager to curb.

Promoting democracy and freedom around the world will panic dictators and even puzzle those who have been brainwashed by their rulers, but it will not lead to disrespect. Only paying lip service to cherished beliefs or failing to follow up promises with actions will court disdain.

(Yang Jianli is president of the U.S.-based Foundation for China in the 21st Century. In April 2007, he was released from prison in China, where he was tortured and held in solitary confinement, after serving five years on political charges.)

 

Lend Them Your Ear

By Newt Gingrich     

 

Few deeds are as simple and effective as the act of listening. But for the past seven years, people around the world have become convinced that the United States is unwilling to make even this small gesture. Their conviction has consequently hurt our ability to lead. We must not forget that successful leadership on the world stage, just as in one’s own home, depends upon the shared belief that all views are at least heard. The highest priority for the next U.S. president must be to persuade our friends and foes alike that the United States does indeed hear them.

As soon as the new president is elected, he or she should immediately embark on a series of pre-inauguration visits to capitals around the world: not just London, Paris, and Jerusalem, but Ankara, Amman, Beijing, and Cairo. In the span of several weeks, the president should make dozens of stops in Latin America, the Middle East, Europe, Africa, and Asia. During these visits, not one moment needs to be spent trying to prove or demonstrate American power and dominance. Instead, the president-elect should simply listen. There should be no formal agenda, only questions. How do these other leaders think the United States can be most effective with its economic, military, and cultural might? And in turn, how do they propose to help achieve mutual goals during the next four years?

Listening does not mean obeying, or even agreeing. Trust begins not with agreement, but with mutual respect, which comes from an appreciation and understanding of the other person’s point of view. There is no obligation to accept or act upon the advice that is offered. The sole obligation is to understand the other side’s perspective.

This simple exercise of asking for advice and listening carefully and sympathetically will, in almost every part of the world, lead to dramatically improved relations and perceptions. If successful, this listening tour will enable the United States to build far more effective coalitions with our allies and further our strategic goals.

Our ultimate ends remain unchanged. But process and style matter. If the next president can reverse the perception that American power is deaf to the appeals of the world, the United States will once again be encouraged and expected to lead.

(Newt Gingrich, speaker of the U.S. House of Representatives from 1995 to 1999, is senior fellow at the American Enterprise Institute and coauthor of A Contract with the Earth (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2007.)

 

A Woman’s Worth

By Kavita Ramdas     

 

For the next president, there are no quick fixes. American moral legitimacy has suffered setback after setback in recent years, and there is no singular step a president can now take that would wipe the slate clean overnight. Indeed, seven years of unilateral gestures are what have brought us to this point. The United States is still admired for the possibilities it holds, but it has lost the benefit of the doubt.

At such a moment, what is needed is a sudden and unmistakable break from the past. It should be a policy that clearly demonstrates that the world’s most powerful country is willing to harness its resources to benefit those who, so far, have been denied power. The next president should make a public commitment to use his or her office to promote global gender equality for the next four years.

Cynics will roll their eyes. Some will see this as a task best left to a U.N. agency with an acronym they can’t quite recall. Others will consider it a well-meaning and important initiative that must be pushed aside in favor of more pressing issues. They are all mistaken. Not only is gender equality an important goal in its own right, but it is also an efficient path to solving many of the problems that plague our world. In the past decade, the increased employment of women in developed economies has contributed more to global growth than China’s rise. Not surprisingly, therefore, the education of women far outstrips most other strategies for economic development in the poorest nations. Likewise, many developing countries are beset with poverty, high child mortality rates, and the spread of HIV/AIDS. Yet we now know that with every additional year of education a woman receives beyond the fourth grade, average family size drops by 20 percent and child mortality rates drop by 10 percent. A woman with a fifth-grade education cuts her risk of being infected with HIV/AIDS by more than 50 percent.

Greater female political participation consistently leads to more evenhanded policymaking. In Rwanda, where women hold nearly half of the seats in parliament, a desperately poor nation is close to achieving full healthcare coverage for its citizens. Across Scandinavia, the presence of women in prominent political roles has led to unprecedented investments in education and job training. World Bank studies now indicate that female political empowerment often leads to less corruption.

What if, for four years, the president inquired about women’s rights during each of his or her presidential visits with foreign dignitaries? What if he or she asked for a similar update from U.S. governors or mayors? What if all cabinet members included concerns about women’s educational initiatives in their talking points when abroad? Today, 185 countries have signed an international bill of rights for women. What if the United States added its name to the list? At the end of four years, the next president may not be able to declare the end of gender inequality. But, at almost no cost, he or she will be able to point to how the United States has made life better for millions. For a country looking to regain its moral standing, few options hold more promise.

(Kavita Ramdas is president and CEO of the Global Fund for Women.)

 

End the Embargo

By Nadine Gordimer 

 

I need the fingers of a hand to count off the issues that demand the urgent attention of the next president of the United States of America. But I am confident that others invited to respond to this question will do so forthrightly, stating what needs to be proposed for policies in respect to Iraq, Iran, Israel-Palestine, the urgency to sign the forthcoming successor to the Kyoto agreement, reversing the shameful refusal to sign the original—and the rest of the roster of present U.S. policies that endanger not alone the peoples directly affected, but the peace, and in the case of the global environment, the survival of the world we have no choice but to share.

So I take up an issue that is widely overlooked in the countdown of policies and notions that one regrets to see the most powerful, self-proclaimed upholder of democratic values follow and commit. I refer to the blockade of Cuba.

Last October, Cuba submitted to the U.N. General Assembly for the 16th consecutive year the draft resolution titled “Necessity of ending the economic, commercial and financial embargo imposed by the United States of America against Cuba.” In 2006, 183 member states voted in favor of this resolution, proof of the international community’s rejection of U.S. policy against Cuba, which is contrary to the charter of the United Nations, the principles of international law, and the relations among states. In 2006, the damage to Cuba’s foreign trade exceeded $1.3 billion as a result of the boycott. The greatest damage was due to the impossibility of having access to the U.S. market, but the Bush administration’s increase of sanctions on enterprises cooperating with Cuba in gas and oil exploration, the ban on the sale of medical equipment to Cuba, and the limited conditions for imports contribute to the inhuman denial of the needs of a people.

The deplorable accompanying effects of the blockade are blatant flouting of standards of justice the United States claims to embody and uphold. There is Guantánamo; the continued existence of a U.S. prison on the land of another, a sovereign state.

There is also the incarceration of the Cuban Five [accused of conspiracy to commit espionage and murder—Ed.] in the United States in ruthless conditions of seclusion, despite the declaration, some time ago, of the United Nations-affiliated Working Group on Arbitrary Detentions that their detention is arbitrary, the unanimous decision of the Atlanta appeals court nullifying the sentences pronounced against them in their original trial, and the subsequent dismissal of that decision by a split vote in that same Atlanta court. The five remain in maximum-security prisons. The wives of two have been refused permission to visit; one young woman hasn’t seen her imprisoned husband for nine years.

The one unilateral decision I propose to the next president of the United States of America is to abolish the blockade of Cuba. Whatever else he or she will need to restore America’s standing in the world, this will be a single act of delayed justice.

(Nadine Gordimer, who was awarded the Nobel Prize in Literature in 1991, is the author of 14 novels, nine volumes of stories, and three nonfiction collections.)

 

Unrepentant Power

By Jorge I. Domínguez         

 

Reread the opening lines of the U.S. Declaration of Independence. There, the Founders pledged the nation to bear “a decent respect to the opinions of mankind.” They vowed to resist the temptation to insist that American views should always prevail. They affirmed that the very idea of liberty intrinsically presumes that we will not all follow the same path.

Of the repeated injuries the Founders claimed against the king of England, the very first was his refusal to “assent to laws,” which are “wholesome and necessary for the public good.” Today, the United States regularly flouts the very laws and norms of trade, international law, and human rights that it expects the rest of the world to follow. The most pressing priority for the next U.S. president will be to end the double standards that the United States believes its strength and stature afford it.

The United States was the leading architect of the international laws and organizations sculpted in the wake of World War II. It built this multilateral framework because it was useful and because it was right. Yet, during the last decade, the U.S. government has undermined important multilateral agreements concerning climate change, the international criminal court, and nuclear nonproliferation. It has shredded the Geneva Conventions. It has embraced dictators who should have been rightly treated as international pariahs.

Likewise, the United States was born again as a free trader after World War II. Yet, during this decade, the United States has often refused to abide by the very rules it is adamant should apply to others. Unfair “free trade” treaties of the sort that the United States recently imposed on Central American countries hardly deserve the name. Smaller, weaker countries are forced to eliminate their own barriers while the United States insists on disproportionate protections for its own farmers and manufacturers.

Just as U.S. citizens resent the unsolicited involvement of foreign leaders in the choosing of their next president, their government must refrain from bullying voters around the world. Such practices often backfire. Evo Morales is today president of Bolivia in part because the U.S. ambassador denounced him publicly before the 2002 election, bringing him to the attention of voters eager to protest their displeasure with politicians allied with the United States.

Torture? Waterboarding? It is difficult to accept such dishonorable practices being used by the same country that rightly denounced the horrific abuses that its adversaries employed against U.S. soldiers during wars in Korea and Vietnam. The United States should not torture the prisoners it holds, just as it would not want its citizens to be tortured anywhere in the world.

The next U.S. president must rebuild respect for international rules and organizations, many of which the United States once helped mightily to create. Let the behavior Americans expect and prefer on the part of other nations be the most basic guide to their own actions. The U.S. Declaration of Independence pledges “our sacred honor”; the nation’s foreign policies should pledge no less.

(Jorge I. Domínguez, a contributing editor to Foreign Policy, is vice provost for international affairs at Harvard University.)

 

Travel to Tehran

By Dmitri Trenin       

 

It took a war to recognize it, but Iraq is not the key to meeting U.S. goals in the modern Middle East. That distinction goes to Iran. Achieving stability in Baghdad and Kabul, guaranteeing the safe passage of Persian Gulf oil, securing an Israeli-Palestinian peace agreement, salvaging Lebanon’s democracy, and pushing Syria toward more cooperative policies—all these American objectives have a better chance of being met if Tehran has a place at the table.

Yet the U.S. approach toward the Islamic Republic remains ossified. The mullahs in Tehran continue to be branded as nuclear-obsessed terrorists, treated as international pariahs who only understand threats and isolation. The White House’s talk of World War III reveals a fundamental U.S. error: Iran’s policy tools—the threat of a nuclear weapons program, its ties to Hezbollah and Hamas—are not its policy goals. What the mullahs crave is not nuclear suicide but a legitimate regional role, and they are determined to achieve that influence, with or without American blessing.

That’s why the next U.S. president should seize the upper hand and embark on a “Nixon in China”-like visit to Tehran. Thirty-five years ago, Richard Nixon and Henry Kissinger sat down with Mao Zedong and transformed mutual enmity into a quasi alliance. That American enterprise scored a Cold War victory against Moscow. The next U.S. president would accomplish a similar strike against al Qaeda and the forces of instability in the Middle East, while guaranteeing that Iran’s nuclear plans remain only on the drawing board.

Unlike most states in the region, Iran was not born this century. It is the world’s second-oldest state after China. Regimes have come and gone in its long history, and change today is certainly a possibility. But an overhaul is realistic only from within; an entire generation has grown up since the Islamic Revolution and is becoming weary of its dictates. Some Russian observers compare modern Iran to Leonid Brezhnev’s Soviet Union—the beginning of the end. Visiting Americans report of ordinary Iranians’ fascination with the American way of life, another familiar Soviet phenomenon.

But whatever the fate of the current regime, Iran itself will survive well into the future, a fact that cannot be said with certainty about several of its neighbors. What is certain is that the only thing that stands between Iran and the nuclear future it threatens is dialogue with the United States, the sole audience it truly craves. The terms will be tough: the lifting of sanctions, security guarantees, the right to a peaceful nuclear program. Mutual agreement on those alone will be difficult, but they will be the only incentives powerful enough to convince Iran to forgo the pursuit of weapons.

Half a century ago, John F. Kennedy understood that he had to deal with the Kremlin to save his country. Nikita Khrushchev, after all, promised to “bury” him, and even if he meant it philosophically, the missiles in Cuba were both real and lethal. Today, the United States can either reach out to a similarly swaggering adversary, or step back and face the consequences. Will it wait until Iran’s missiles are all too real?

[Dmitri Trenin is deputy director of the Carnegie Moscow Center and author of Getting Russia Right (Washington: Carnegie Endowment for International Peace, 2007)]

 

Steady as She Goes

By Fouad Ajami        

 

There is a familiar liberal lament that the United States had the sympathy of the world after September 11, but uselessly squandered it in the years that followed. The man who most vehemently espoused this line of thinking in France, former French President Jacques Chirac, is gone and consigned to oblivion. The French leader who replaced him, Nicolas Sarkozy, stood before a joint session of the U.S. Congress in November and offered a poetic tribute to the land his predecessor mocked. He recalled the young American soldiers buried long ago on French soil: “Fathers took their sons to the beaches where the young men of America so heroically died . . . The children of my generation understood that those young Americans, 20 years old, were true heroes to whom they owed the fact that they were free people and not slaves. France will never forget the sacrifice of your children.” The anti-Americanism that France gave voice to for a generation has given way to a new order. This young leader now wants to fashion France in America’s image.

The man or woman who picks up George W. Bush’s standard in 2009 will inherit an enviable legacy. Europe is at peace with U.S. leadership. India and China export the best of their younger generations to U.S. shores. Violent extremists are on the retreat. Millions have been lifted out of dire poverty. This age belongs to the Pax Americana, an era in which anti-Americanism has always been false and contrived, the pretense of intellectuals and pundits who shelter under American power while bemoaning the sins of the country that provides their protection. When and if a post-American world arrives, it will not be pretty or merciful. If we be Rome, darkness will follow the American imperium.

Nothing dramatically new needs to be done by the next American president in the realm of foreign affairs. He or she will be treated to the same laments about American power; the same opinion polls will come to the next president’s desk telling of erosion of support for the United States in Karachi and Cairo. Millions will lay siege to America’s borders, eager to come here, even as the surveys speak of anti-Americanism in foreign lands.

My own concrete advice has to do with the “diplomacy of freedom” launched by President Bush. The Arab-Muslim world was the intended target of that campaign. It has had a mixed harvest: a new order in Iraq, liberty for Lebanon from its long Syrian captivity, stalemate in Egypt and the Arabian Peninsula. That campaign for freedom, with its assertion that tyranny was not the only possibility in the Arab DNA, is a noble gift that Bush bequeathed the Arabs. It harks back to Woodrow Wilson’s belief in the self-determination of nations. Like Wilson’s principles, the ideas espoused by Bush in Iraq, Lebanon, and beyond will wax and wane, but they will remain part of the American creed. An American leader who casts them aside will settle for a lesser America.

(Fouad Ajami is Majid Khadduri professor of Middle East studies at the School of Advanced International Studies at Johns Hopkins University.)

 

Say You’re Sorry

By Desmond Tutu     

 

After the September 11 attacks, an amazing outpouring of sympathy, concern, and love for the United States sprang forth from all over the world. It was proof that there is no instinctive or deep-seated hostility to the United States, no automatic anti-Americanism. There is, of course, frequent resentment of particular policies. The Reagan White House, for example, pursued constructive engagement with the apartheid government of South Africa. Many of us in South Africa opposed this course of action vehemently, but it did not make us anti-American.

Today, the negative feelings about the United States have been provoked by the arrogance of unilateralism. The administration of George W. Bush has routinely thumbed its nose at the rest of the world and told it to go jump in the lake. It did so over the Kyoto Protocol, the International Criminal Court, and the detention center at Guantánamo Bay, Cuba. But nowhere did it do so more spectacularly than in the invasion of Iraq, heaping contempt upon the United Nations and upending international law. That arrogant action has turned out to be a catastrophic disaster on all scores.

Some of the most difficult words in any language are, “We made a mistake. We are sorry. Forgive us.” They are but a few words, yet one cannot overestimate the power they have to change the dynamics of a fraught situation. Would the incoming U.S. president have that greatness of moral stature and magnanimity? Would he or she have the humility to recognize the faults of the recent past, and the determination and sincerity of spirit to right the course?

More than anything else, the United States is looked upon fondly for its remarkable generosity. Europe will never forget the charity of the Marshall Plan after the devastation of World War II. America needs to be reminded that its history and example have provided millions with inspiration for their own struggles for freedom, democracy, and a better life. If the world’s superpower has the grace and modesty to say it is sorry, people would rub their eyes in disbelief, pinch themselves, and then smile because a new day had dawned.

(Desmond Tutu, winner of the 1984 Nobel Peace Prize, is archbishop emeritus of the Anglican Church.)./.  

 

 

 

 

 

 

  


Trần Bình Nam

http://www.tranbinhnam.com