Hương Văn – 5 năm

 

Trần Bình Nam

Tháng 3 ngày 9 năm 2003

 

Kính thưa quý vị,

 

Hôm nay là một dịp đặc biệt đối với tôi, được hầu chuyện với một cử tọa đến đây để nghe và bàn đến chuyện văn học nói chung, văn học hải ngoại nói riêng và nói riêng hơn nữa là về Tập San Hương Văn do bác sĩ, cũng là nhà văn Trần Sĩ Lâm chủ biên. Hôm nay là ngày đánh dấu Tập San Hương Văn tròn 5 tuổi.

            Tôi nói đặc biệt đối với tôi vì tôi không thuộc giới văn nghệ sĩ, tôi  không phải là một người chuyên viết văn, nói cách khác tôi không phải là một nhà văn. Cho nên tôi hơi ngạc nhiên khi anh Trần Sĩ Lâm đề nghị tôi nói về đề tài “Văn Học Hải Ngoại và Hương Văn” nhân dịp kỷ niệm Hương Văn tròn 5 tuổi. Nhưng tôi nghĩ chắc anh Lâm có lý của anh ấy. Có lẽ anh Lâm muốn một người không ở trong giới văn học nói về một vấn đề văn học để tìm cảm giác lạ cho thính giả. Tôi nhận lời, và tự hứa ráng làm hết sức mình theo nguyên tắc “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.”

Tôi nhớ cách đây 5 năm, mùa Xuân năm 1998, lúc đó tôi còn ở bên miền đông Hoa Kỳ anh Lâm cho tôi biết ý của anh muốn chủ biên xuất bản một tờ báo (đúng hơn là một Tập san) văn học. Anh chưa chọn tên cho Tập San. Anh mời tôi tham gia Ban Biên Tập và đại diện cho Tập San tại miền Đông. Xét mình không ở trong giới văn học tôi không dám nhận cả hai việc nhưng tôi hứa sẽ giúp anh Lâm trong khả năng. Trong 5 năm qua tôi đã đóng góp cho Hương Văn 4 chuyện ngắn, 4  chuyện dịch và 6 tài liệu biên khảo, và hôm nay tôi đứng đây hầu chuyện với quí vị về Hương Văn chứng tỏ tôi đã giữ lời hứa với anh Lâm.

Ba năm trước khi Hương Văn ra đời, nói chính xác là năm 1995, nhân đánh dấu 20 năm ngày đông đảo người Việt di tản ra hải ngoại, giới văn nghệ sĩ hải ngoại bàn thảo sôi nổi về đề tài: “có một nền văn học hải ngoại  không?”, và đây là một đề tài thảo luận lớn trong một số Văn Học của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Trong một tài liệu khảo cứu công phu của nhà văn Mai Kim Ngọc đăng trên tờ Văn Học chủ đề: “Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại” ông viết:  “Nếu văn học là nhu cầu quan trọng cho mọi xã hội thì riêng với cộng đồng chúng ta, văn học có lẽ còn quan trọng hơn nữa.  Nó là chất xi-măng, thay thế cái xi-măng địa dư hành chánh hay chính trị hay kinh tế mà chúng ta không còn nữa từ khi chấp nhận sinh sống tại nước ngoài.”

Nhận xét đó xác nhận có một nền văn học hải ngoại, kể từ những ngày chân chưa dính đất từ những mẫu chữ cỏn con gắn lên bảng nhắn tin trong các trại tị nạn cho đến những tờ báo đánh dấu bằng tay trong những ngày đầu tiên của tờ Trắng Đen. Tuy nhiên vấn đề không đơn giản như vậy. Văn học không phải là sản phẩm của một người, viết xong bỏ vào ngăn kéo là văn học. Văn học muốn thành hình phải có người đọc, phải có môi trường,  phải có đề tài đánh động những gì tiềm ẩn của lòng người, phải có kẻ khen người chê, phải có phê bình văn học. Nếu nhìn một nền văn học dưới cái nhìn gắt gao như vậy thì giới văn nghệ sĩ vẫn chưa hoàn toàn đồng ý là có hay không có một nền văn học hải ngoại.

Giới chủ trướng chưa có cho rằng chúng ta thiếu chất sống, thiếu phương tiện truyền thông, thiếu sự yểm trợ của một tập thể độc giả, và nhất là thiếu cả một khối người đồng ngôn. Chúng ta sống ngoài nhịp sống của gần 80 triệu đồng bào nơi cố quốc.

Nhưng khuynh hướng bi quan này đang trở thành thiểu số. Văn học Việt Nam hải ngoại đã là một thực thể, và nó trở thành một thực tế vì đề tài sáng tác tướûng thiếu thật ra đã không thiếu. Biến cố thập niên 1970 của đất nước và cuộc ra đi vĩ đại của hơn một triệu người, gốc rễ bị xáo trộn tận gốc, đời sống tâm thần bị xao động dữ dội, cuộc tranh đấu để tái lập đời sống mới, nỗi nhớ quê hương không thấy ngày trở về đã là những đề tài nóng bỏng nhiều chất lượng. Và sau 15 năm, khi những đề tài nóng bỏng đó cạn dần, ngướøi Việt bắt đầu hội nhập vào đới sống mới và bắt đầu hít thở cái nhịp sống của sinh hoạt bản xứ để biến nó thành những đề tài sáng tác.

Nhưng ở đây một vấn đề mới xuất hiện. Những sáng tác lấy chủ đề nhân sinh và cuộc sống trước mắt kéo dài được bao lâu? Mười năm hay 15 năm nữa khi lớp người còn khả năng viết hiện nay khuất bóng, ngôn ngữ Việt Nam trở thành ngôn ngữ bậc hai của những người cầm bút gốc Việt thì có thể còn có những tác phẩm có tầm vóc văn học xuất hiện bằng Việt Ngữ được không? Tôi nghĩ là không. Lúc đó nếu nói đến Văn học Việt Nam hải ngoại có lẽ chúng ta phải xác định thời gian của nền văn học hải ngoại đó. Thời gian đó là khoảng nửa thế kỷ từ năm 1975 đến 2020? Sau năm 2020 tôi sợ không còn báo tiếng Việt ở hải ngoại chớ đừng nói đến tác phẩm văn học Việt ngữ.

Trong cuộc tranh luận đã ngã ngũ “có hay không có một nền văn học hải ngoại” tôi không nêu ra quan điểm chính thức của văn nghệ sĩ trong nước. Trước hết vì văn nghệ sĩ trong nước không được phép có quan điểm độc lập như một tập thể. Còn quan điểm chính thức của nhà nước là quan điểm chính trị hơn là văn học. Nhà nước cộng sản tại Việt Nam không công nhận có một nền văn học hải ngoại. Cuộc đấu tranh của họ là một cuộc đấu tranh toàn diện không khoan nhượng nhất là trên mặt văn học mà họ biết ảnh hướûng đối với quần chúng rất lớn lao. Trong bộ Văn Học Việt Nam thế kỷ 20 gồm 70 cuốn sắp xuất bản hình như họ không để nhiều lời về văn học hải ngoại. Tin cho biết chính quyền Hà nội đang nhờ nhóm UMass của ông Nguyễn Bá Chung dịch ra Anh Ngữ hy vọng phổ biến tác phẩm này trong giới đại học Mỹ. Trong chương trình Văn của đại học Việt Nam cũng không thấy nhắc đến văn học ở hải ngoại.

Nhưng nền văn học trong nước từ năm 1975 đến nay ra sao? Theo nhận định của một nhà văn có chân trong hội nhà văn hiện sống tại Hà nội và vẫn còn sáng tác thì nền văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay có những biến chuyển lớn, nhất là sau cuộc cởi trói văn nghệ năm 1986 của ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Được tự do đôi chút những nhà văn trong nước dần dần tìm lại mình, nói nhiều đến số phận, đến tình yêu mà đã lâu họ quên mất. Nhưng văn nghệ được cởi trói không lâu. Đảng CSVN sợ tiếng nói quá tự do của văn nghệ sĩ nên đã trói văn nghệ lại mặc dù không kềm kẹp quá khắc nghiệt như trước.

Nhờ vậy mười bảy năm qua, truyện ngắn Việt Nam phát triển mạnh, có nhiều thành tựu với những tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Thu Huệ, Bảo Ninh, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Lê Thị Minh Khuê ..... . Các  nhà văn nữ xông xáo nhất và gây được ấn tượng mạnh trong lòng độc giả. Truyện dài thì có Bùi Ngọc Tấn với “Chuyện kể năm 2000” và mới đây cuốn “Đi Tìm Nhân Vật” của Tạ Duy Anh. Rất tiếc hai tác phẩm này đã bị thu hồi ngay sau khi xuất bản vì đụng chạm đến chế độ. Nhà văn Tạ Duy Anh cũng là tác giả của truyện ngắn “Bước Qua Lời Nguyền” viết trong thời gian cởi trói văn nghệ (Văn Nghệ 1989 - Hà Nội) nói về tâm trạng của giới trẻ nông thôn đã lớn lên trong và sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất kinh hoàng của thời gian 1953-1956.

Về thơ có những gương mặt mới: Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu,.... và những năm 90 thêm Hoàng Trần Cương , Nguyễn Quang Thiều, Trương Nam Hương, Nguyễn Xuân Thâm ...

Những nhà thơ nổi tiếng trước kia lần lượt qua đời: Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan, Lưu Trọng Lư, Vân Đài, Hằng Phương, Đoàn Phú Tứ, Hồ Dzếnh, Quang Dũng, Văn Cao, Thanh Tịnh. Những người thời  Thi nhân Việt Nam” nay còn lại Huy Cận, Anh Thơ, Tế Hanh (nằm bệnh), Mộng Huyền, Nguyễn Xuân Sanh, .... vẫn sáng tác và có tác phẩm góp với đời.

Nói tóm lại, cùng với truyện ngắn, và vài truyện dài, thơ Việt Nam đang biến chuyển, đang hướng tới một định hình mới. Nhưng, nhìn chung vì không khí sinh hoạt văn học nghệ thuật thiếu phóng khoáng nên chưa có những tác phẩm kiệt xuất xuất hiện có thể ảnh hưởng ra ngoài biên giới quốc gia.

Nhưng Hà Nội đã có những nỗ lực đáng kể về mặt ấn hành các tài liệu về văn học. Ngoài bộ Văn Học Việt Nam thế kỷ 20 nhà xuất bản Văn Học Hà Nội đã cùng với công ty Văn Hóa Phương Nam ấn hành bộ sách “Tác Phẩm & Dư Luận” 30 cuốn liên quan đến các tác phẩm trước 1954 chủ yếu dành cho Truyện Kiều, văn thơ Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên v.v... . Bộ này được chia làm 2 phần. Phần 1, gọi là Chính Văn, in lại nguyên văn tác phẩm, và phần 2 là phần nghiên cứu và phê bình các tác phẩm trên bởi những cây bút tên tuổi. Trong năm 2003 Hà Nội dự định xuất bản thêm một bộ “Tác Phẩm & Dư Luận” khác dành cho những tác phẩm sáng tác từ 1954 đến nay.

Trong tình hình văn học đó, năm 1998 Tập San Hương Văn khiêm nhượng ra đời. Quá trình hình thành manh nha từ lúc người chủ biên, anh Trần sĩ Lâm còn ngồi trên ghế  trường trung học. Anh Lâm tâm sự:  “Từ hồi còn học ở trung học tôi đã thích đọc Tự Lực Văn Đoàn. Đến khi là sinh viên ở Sài Gòn, tôi không bỏ sót một tờ báo văn học nào, và tên của những nhà văn như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền ..... đã gây trong tôi nhiều ấn tượng. Và sự yêu mê văn chương lớn dần theo tuổi đời của tôi. Tôi không bỏ nó được, như một nghiệp chướng, cho đến khi ra hải ngoại.”

Cuộc sống lưu vong trong những năm tháng đầu tiên không lấy   êm ả, những nỗi niềm xúc động tích ứ trong lòng đã được nhà văn Trần Sĩ Lâm bung thoát ra nơi tác phẩm đầu tay “Hoài Niệm” xuất bản năm 1989. Và 11 năm sau đó chuyện dài “Cùng Một Mầu Áo” và ba Tập Truyện ngắn “Nỗi Buồn Sau Lưng”, “Chỉ Là Hư Không” và “Ảo Ảnh Cuộc Đời” xen kẻ nhau ra đời. Qua đó anh Lâm gởi gắm lại mảnh đời tị nạn với những nét sống thật của xã hội mới. Tất cả đều bằng một bút pháp dung dị.

Nhưng nhà văn Trần Sĩ Lâm không ngừng ở đó. Nhìn lại thấy văn hóa Việt ở hải ngoại càng bị tháng ngày xoi mòn bởi lớp già ra đi và lớp trẻ ít gắn bó với quê Hương, anh nảy ra ý làm một tờ báo văn học xuất bản định kỳ. Ý tưởng đó được các thân hữu thích viết văn, làm thơ, chính yếu là nhà thơ kiêm nhạc sĩ Huy Trâm và nhà văn Bùi Bích Hà, và vài văn hữu khác đồng ý góp một bàn tay và tờ báo ra đời với cái tên khai sinh là Tập san Hương Văn.

“Hương” đây theo anh Lâm có hai nghĩa: Hương thơm là một, nhưng Hương còn là Hương Giang, là Huế, là đất thần kinh mới là ý chính của anh. Văn chương, cũng như chính trị –theo anh Lâm- phải có kẻ đưa người người đẩy. Miền bắc Việt Nam vốn là cái nôi văn học của nước nhà nên sản sinh nhiều văn tài là chuyện tự nhiên nhưng yếu tố “đưa đẩy” không phải là không quan trọng trong sự đào tạo những văn tài đó. Thành hình Tập San Hương Văn anh Lâm muốn tạo một cái sào đưa đẩy mầm văn nghệ đất thần kinh đồng thời đóng góp vào nền văn học hải ngoại.

Là một tờ báo văn học nên Hương Văn tập chú vào hai lãnh vực biên khảo và sùng tác (văn và thơ). Tập san không bàn về chính trị nhưng đào sâu vào những giá trị xã hội và khoa học nhân bản, có tính phục vụ con người. Về thơ văn cũng vậy, trước hết lấy quê hương chất liệu, và rộng hơn lấy tình người làm chủ yếu.

Một câu hỏi tự nhiên đến với chúng ta. Hương Văn đã  đóng góp được gì? Quý vị hãy nhìn 21 tập Hương Văn đây để thấy sự tích lũy vật chất của nó. Đây là kết quả năm năm đằng đẵng với sự góp tâm trí của nhiều người.

Hãy thử đếm, chúng ta thấy Hương Văn đã đóng góp về phương diện văn chương không biết bao nhiêu truyện ngắn và truyện dịch có giá trị. Chỉ riêng nhà thơ Huy Trâm ông đã viết 14 chuyện ngắn, 13 bài thơ và một bài biên khảo. Nhà văn nữ Bùi Bích Hà đã góp 10 chuyện ngắn không kể ba tài liệu biên khảo. Và anh Trần   Lâm với 13 chuyện ngắn, một bài biên khảo và một số bài thơ. Ngoài ra lác đác chuyện ngắn của Nguyễn Trung Hối, Trần Đại Minh. Và thơ, một núi thơ hơn 200 bài ca ngợi cái đẹp của tình yêu, tình người và thiên nhiên.

Mặt biên khảo có thể nói là mặt dồi dào nhất của Hương Văn với những tên tuổi như cụ Thái Văn Kiểm, bác sĩ Trần Văn Tích, bác sĩ Lê Văn Lân, ông Nguyễn Quốc Trụ, thỉnh thoảng có sự tham dự của giáo sư Nghiêm Toản, ông Diệu Tần, các ông Đỗ Thuận Khiêm ở Pháp, Nguyễn Công Hàm ở Úc, và của hai nhà khoa học là GS Nguyễn Xuân Vinh và Tiến sĩ Nguyễn Văn Hai. T/S Nguyễn Văn Hai dạy thiên văn học và điện toán tại đại học Kentucky đã đem cái kinh nghiệm tiếp xúc với cái vĩ đại của vũ trụ trong ngành thiên văn học với cái li ti trong ngành điện toán để hiến cho độc giả Hương Văn một cái nhìn hý lộng về cái có và cái không trong đạo Phật thật là lý thú. Riêng cụ Thái Văn Kiểm hình như rất ít khi vắng mặt trên Hương Văn. Cụ biên khảo về nghệ sĩ   nhà báo (nữ sĩ Phương Lan và nhà báo Bùi Thế Mỹ); về chiếc đồng hồ và triều đại các chúa Nguyễn; chuyện cây hoa mai quyện lẫn với lịch sử  cận đại; chuyện nhà thơ Hàn Mạc Tử và mối tình cao thượng đẹp như mơ của nữ sĩ Mai Đình. Cụ nghiên cứ tình sử trên sông Ô Lâu, con sông chảy qua biên giới Quảng Trị, Thừa Thiên ngày xưa là nơi phân cách hai châu Ô, Rí, qua đó công chúa Huyền Trần đã từ bỏ vua cha, chia tay người yêu vượt Ô Lâu Giang đi làm nhiệm vụ lịch sử kéo dài bờ cỏi Việt Nam về phía nam thêm hai châu Ô, Lý. Qua “Vó ngựa xông Pha” cụ Thái Văn Kiểm, phối hợp giữa lịch sử và giả sử đã vẽ một bức tranh chính xác về Nguyễn Huệ, đệ nhất danh tướng Việt Nam. Cụ đã hiến cho độc giả những sưu tầm về gia thế, đời sống tình cảm và những bí ẩn chung quanh cái chết của vị vua trẻ năm ngài mới 40 tuổi.

Gần đây có sự đóng góp của T/S Mai Thanh Truyết, một chuyên viên môi trường mang đến cho độc giả những hiểu biết căn bản về môi trường sống với nước chúng ta uống và không khí chúng ta thở. Những nghiên cứu của T/S Mai Thanh Truyết mặc dù thuần khoa học, ông không quên áp dụng trong môi trường Việt Nam mà trong thời đại phát triển đôi khi người có trách nhiệm quên đi những di lụy lâu dài.

Tóm lại với 21 cuốn Tập San dày hơn một gang tay này, hay có dở có, sâu sắc có, hời hợt có nhưng sự đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung và văn học hải ngoại nói riêng là một điều không thể chối cãi. Và theo chủ quan của tôi về văn cũng như về thơ nhà thơ Huy Trâm đã chiếm một chỗ quan trọng trong lòng Hương Văn, nhất là văn với những chuyện ngắn của ông chuyện nào đọc xong cũng làm cho người đọc buồn man mác. Bên cạnh nhà thơ Huy Trâm nhà văn Bùi Bích Hà hiến cho độc giả những chuyện ngắn tuyệt vời của chị và về phần biên khảo cụ Thái Văn Kiểm đã mang cái độc đáo của cụ đến cho Hương Văn.

Dù với những đóng góp đó, anh Trần sĩ Lâm, người chủ biên vẫn nghĩ rằng so với các tạp chí văn học khác đã có từ lâu, Hương Văn chỉ là đứa em sinh sau đẻ muộn. Cho nên Hương Văn luôn hướng nhìn những đàn anh đi trước, ghi nhận những điều phải làm và khiêm nhượng trong nhiệm vụ tự hạn chế là tạo nên một mảnh vườn chung cho những ai yêu thích văn chương.

Tờ Hương Văn sống thế nào? Tờ báo có nuôi nổi Ban biên Tập không? Đến đây chúng ta đứng trước một vấn đề không phải chỉ liên quan đến Hương Văn mà nó có liên quan đến cái gọi là nền văn học hải ngoại. Trong ngành truyền thông, viết lách và in ấn của người Mỹ, ông chủ các tờ báo lớn, tác giả các tác phẩm được nhà xuất bản chọn in đều là triệu phú. Nhưng ông chủ của các tạp chí Việt ngữ, nhất là tạp chí văn học hải ngoại đều nghèo, nếu không muốn nói là nghèo xác nghèo xơ, và càng đeo đẳng chữ nghĩa bao nhiêu càng nghèo bấy nhiêu. Điều này áp dụng cho Hương Văn.

Hương Văn sống nhờ một số độc giả dài hạn có giới hạn, và phần khác nhờ vào tài quán xuyến chạy tiền yểm trợ của chị quản lý cũng là phu nhân của nhà văn Trần Sĩ Lâm qua các trang quảng cáo của các y sĩ, nha sĩ, luật sư trong vòng quen biết. Trong tình huống như vậy Hương Văn sống được nhờ cái dàn nhân sự từ chủ biên, đến Ban Biên Tập đến người quản lý đều làm việc không lương, và những người đóng góp bài vở tài liệu cũng để phục vụ văn học nghệ thuật chứ không phải vì tiền nhuận bút.

Nguồn tài chánh từ độc giả dài hạn và ngắn hạn gặp đâu mua đó thành thật mà nói cũng cạn dần, vì số độc giả có sở thích và khả năng văn hóa giảm dần khi số tuổi càng cao. Lớp trẻ lớn lên nhiều và năng động nhưng không năng động về mặt văn học nghệ thuật lấy Việt ngữ làm gốc. Đến đây chúng ta ai cũng thấy có một nhu cầu: Muốn duy trì một sinh hoạt văn học nghệ thuật chúng ta cần phải nhập cuộc, cố gắng duy trì khả năng Việt ngữ trong gia đình, khuyến khích lớp trẻ đọc và sáng tác bằng Việt ngữ và rộng rãi về tài chánh với bất cứ  ấn phẩm nào. Trên tất cả, sự ủng hộ của độc giả là sự sống còn của một tờ báo văn học.

Về dự tính tương lai của Hương Văn, anh chủ biên cho biết. Tương lai của Hương Văn lệ thuộc vào hai điều. Trước hết là độc giả dài hạn. Và sau đó là giá trị về nội dung của Hương Văn. Về mặt này Hương Văn biết mình phải luôn luôn cải tiến nội dung, phải luôn luôn tìm kiếm những tài năng mới để cho vườn hoa Hương Văn càng ngày càng thêm hương sắc. Anh chủ biên quan niệm Hương Văn là của tất cả chúng ta, người đọc và người viết. Hương Văn là mãnh vườn chung cho những cây vô ưu nẩy mầm và vươn lên tượng trưng cho niềm ao ước tự do và hướng về cái đẹp muôn thuở của con người.

Tôi nghĩ quí vị ngồi đây và tôi cũng không có ao ước gì hơn.

Xin kính chào quí vị và quí bạn.

 

Trần Bình Nam (9 tháng 3, 2003)

Binhnam@aol.com

http://www.vnet.org/tbn

 

 

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn