GIỜ CHIẾN TRANH ĐÃ ĐIỂM

 

Trần Bình Nam

 

            Buổi họp báo của tổng thống Bush chiều tối ngày Thứ Năm 6 tháng 3 năm 2003 chuẩn bị cho buổi họp của các ngoại trưởng các nước có chân trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (HĐBA) tại trụ sở Liên hiệp quốc ở New York ngày hôm sau để nghe hai ông Hans Blix và Mohamed Elbaradei (quan trọng nhất là ông Blix) tường trình kết quả thanh tra vũ khí ở Iraq theo quyết nghị số 1441 của HĐBA có hai điểm đặc biệt.

            Thứ nhất, tổng thống Bush xác định rõ ràng vị trí và lập trường của Hoa Kỳ. Lập trường đó tóm tắt như sau: Iraq không chịu hủy bỏ và còn tàng trữ vũ khí giết người tập thể, và không ai có thể chối cãi được điều đó. Do đó, nước Mỹ đang bị đe dọa và chúng tôi phải hành động. Chúng tôi không thể chờ đợi lâu hơn, và chúng tôi không cần sự chấp thuận của bất cứ ai. Tôi không thích chiến tranh, không ai thích chiến tranh, nhưng nếu thế giới không hành động lúc này thì mối nguy trong tương lai còn to lớn hơn.”

            Đứng vào vị trí của nước Mỹ, ngoảnh nhìn lại cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 giết một lúc hơn 3000 người vô tội, ai cũng thấy sự hữu lý trong sự quả quyết của tổng thống Bush. Nếu trong thâm tâm những nhà hoạch định chính sách diều hâu tại tòa Bạch Ốc có để cho cái mồi kho dầu của Iraq cám dỗ trong hành động chiến tranh cũng không ai có thể đặt thành vấn đề lớn (ngoại trừ đại diện của Iraq) để chỉ trích chính sách của tổng thống Bush. Lời mở đầu được chuẩn bị của tổng thống Bush với thái độ chịu đựng, vừa cương quyết vừa khổ tâm đặt ông vào một tư thế tốt cho cuộc họp báo, có lẽ là cuộc họp báo quan trọng nhất của ông.

Nhưng kỳ lạ thay. Ngày hôm sau, tại trụ sở Liên hiệp quốc khi Hoa Kỳ, Anh quốc và Tây ban nha đệ nạp dự thảo nghị quyết mới ra hạn cho Iraq giải giới trước ngày 17 tháng 3 nghĩa là trong vòng 10 ngày tới, sự phản đối chiến tranh của HĐBA trở nên mạnh hơn. Ba trong năm nước có quyền phủ quyết là Pháp, Nga, Trung quốc cứng rắn hơn. Các thành viên khác không có quyền phủ quyết (Angola, Bảo gia lợi, Cameroon, Chí Lợi, Guinea, Đức, Mễ tây cơ, Pakistan, Syria và Tây ban nha) do dự hơn ngoại trừ Tây ban nha. Nội bộ, đảng Dân chủ lên tiếng mạnh hơn, khuyến cáo tổng thống Bush dè dặt. Và tỉ số dân chúng Hoa Kỳ đồng ý với lập trường của Bush sụt giảm.

Sự kỳ lạ này có thể giải thích bằng sự sợ hãi chiến tranh. Nhưng có thể giải thích hữu lý hơn bằng tranh chấp tiềm tàng giữa hai lục địa Âu Mỹ, dư âm của chiến tranh lạnh, sự vươn mình lên của Trung quốc và sự bực bội vì thái độ coi thường các nước nhỏ của Hoa Kỳ, sự thiếu tế nhị của tổng thống Bush trong sự phát biểu chính sách (công khai chỉ mặt nước khác là ma quỷ; không đủ nhạy cảm với cuộc đấu tranh lập quốc của người Palestine khi tuyên bố rằng chiến tranh diệt Iraq xong Trung đông sẽ có hòa bình vì không còn ai cung cấp tiền bạc cho những vụ đánh bom của người Palestine chống Do thái; nói huỵch toẹt rằng Hoa Kỳ không cần phép của HĐBA trước khi hành động ...). Xung khắc trên thế giới đang tiến gần đến trạng thái bão hòa để có thể giải quyết bằng luật lệ và cơ chế quốc tế hiện hữu.

Điểm đặc biệt thứ hai: Đối với dân chúng Hoa Kỳ, mặc dù tổng thống xác định lập trường rõ ràng, ông không thuyết phục được những người còn nghi ngờ và nghi ngại  chiến tranh vì ông không bén nhạy khai thác các câu hỏi của ký giả trong cuộc họp báo ngày 6/3/03.Tổng thống Bush có thể qua các câu hỏi cho người dân Hoa Kỳ thấy rằng dân Âu châu biểu tình chống chiến tranh vì họ không bị trực tiếp đe dọa. Thí dụ nếu nhóm khủng bố Al Qaeda thủ đắc được vũ khí giết người tập thể của Iraq chúng sẽ dùng để đánh các thành phố Hoa Kỳ chứ không đánh Paris hay Berlin. Tổng thống Bush có thể đặt một câu hỏi cho những người Mỹ còn chống chiến tranh rằng: “Nếu Hoa Kỳ không hành động để cho một vụ 11 tháng 9 khác xẩy ra và lần này có con cái hay cháu chắc của quí vị chết quí vị có thống trách tôi đã không hành động trước hay không? Hay quí vị vẫn chịu đựng cho rằng tôi không hành động là đúng. Tôi chắc quí vị sẽ thống trách tôi. Và tôi không muốn nghe sự thống trách đó”.

            Thậm chí có một câu hỏi của một ký giả không thuộc sử hỏi rằng: “Thưa tổng thống, hằng triệu người Mỹ còn nhớ hoàn cảnh - trong thập niên 1960 -  khi lãnh đạo của hai đảng nhất trí trong sứ mạng thay đổi chế độ tại Việt Nam. Kết quả 50 ngàn người Mỹ hy sinh. Chế độ Hà nội vẫn tồn tại và trong 30 năm qua kể từ khi chiến tranh chấm dứt đến nay chế độ đó đã không làm hại hay đe dọa bất cứ một công dân Mỹ nào. Vậy tổng thống sẽ nói gì với con cái những chiến sĩ từng chiến đấu tại Việt Nam rằng tổng thống sẽ không đưa xứ sở này vào một cuộc phiêu lưu như cuộc phiêu lưu Việt Nam?”

            Tổng thống Bush, thay vì chỉ ra rằng trong cuộc chiến Việt Nam lãnh đạo Hoa Kỳ chưa bao giờ nhắm mục tiêu thay đổi chế độ tại Hà nội (trái lại là khác, Hoa Kỳ - vì ngại phản ứng của khối cộng sản - luôn luôn xác nhận không có mục đích lật đổ chế độ Hà nội mà chỉ muốn Hà Nội chấm dứt cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam) và sự khác biệt của bối cảnh quốc tế trong hai trường hợp thì ông lại cho đó là một câu hỏi đáng giá! (ông Bush nói nguyên văn: “It’s a great question”), và ông trả lời chung chung rằng cuộc hành quân nào cũng có mối nguy của nó, nhưng mục tiêu của Hoa Kỳ là giải giới Iraq, công việc có thể hoàn tất nhanh chóng ... vân vân và vân vân ...

            Hạn chót để Saddam Hussein giải giới là ngày 17 tháng 3. Đêm 17/3 nhằm đêm rằm tháng hai âm lịch là đêm trăng tròn và ít nhất trong ba đêm sau đó về khuya trăng sáng rất thuận lợi cho các cuộc oanh kích mở màn cuộc chiến. Trống hành quân đã điểm. Chiến tranh vùng Vịnh đã lên dàn phóng. Trong 12 năm Saddam Hussein không giải giới thì trong 10 ngày vỏn vẹn dù Saddam muốn giải giới cũng không còn kịp nữa.

            Cuộc chiến vùng Vịnh lần này sẽ đưa thế giới vào một khúc quanh mới. Nó sẽ không dễ dàng như trận “Bão Sa Mạc” (Desert Storm) năm 1991, và sẽ không nhanh chóng như cuộc chiến Afghanistan năm 2001. Hệ lụy của cuộc chiến tranh giải giới để chống khủng bố này sẽ được thấy trên đường phố Hoa Kỳ ít nhất trong một thời gian trước khi bộ An Ninh Nội Địa (Home Security Department) thi hành những chính sách ngăn chận ra ngoài sách vở có thể đụng chạm đến những nguyên tắc và quan niệm về tự do và nhân quyền.

            Khung cảnh thế giới sẽ đổi thay. Tổng thống Bush một mặt nói không cần sự đồng ý của Liên hiệp quốc trước khi hành động, một mặt hứa vẫn đưa nghị quyết ấn định ngày giải giới 17/3 ra cho Liên hiệp quốc biểu quyết sẽ được hiểu là một thách thức. Trước thái độ cứng rắn của Hoa Kỳ 15 nước trong HĐBA sẽ tính toán lợi hại lại và có thể Hoa Kỳ sẽ có đủ 9 phiếu thuận, nhưng Pháp vì tự ái sẽ phủ quyết và vô hiệu hóa quyết định của đa số. Không ai đoán được Liên bang Nga và Trung quốc sẽ bỏ phiếu thế nào. Người ta đoán Trung quốc chọn thái độ “trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi” và sẽ bỏ phiếu trắng. Kết quả là sự rạn nứt giữa Hoa Kỳ và Pháp, cũng như sự nguội lạnh giữa Hoa Kỳ với Liên bang Nga và Đức.   

Cuộc biểu quyết của HĐBA lần này là vết nứt quyết định vận mạng của Liên hiệp quốc. Bốn mươi năm sau ngày thành lập (1945) hai nước bại trận là Đức và Nhật trở thành hai lực lượng kinh tế khổng lồ trên thế giới, và khối Hồi giáo trở nên một khối kình chống đáng kể với khối Tây phương thì sự cấu tạo quyền hành của Liên hiệp quốc với 5 nước Mỹ, Nga, Trung quốc, Pháp và Anh có quyền phủ quyết mọi quyết định của Liên hiệp quốc trở thành bất ổn. Pháp và Anh quá yếu để hành xử quyền này. Anh còn khả thứ vì dựa vào Mỹ. Riêng Pháp chỉ có sự tự hào là lớn đến độ kiêu căng nhưng túi thì rỗng. Tuy nhiên năm nước Mỹ, Nga, Trung quốc, Pháp và Anh vẫn lợi dụng Liên hiệp quốc để hợp pháp hóa những hành động có tầm vóc quốc tế có lợi cho mình. Gần đây nhất, nghị quyết 1441 buộc Iraq báo cáo tình trạng vũ khí cho HĐBA, nhưng báo cáo của Iraq bị Hoa kỳ chận trước, lọc bỏ những điểm liên quan đến kỹ thuật  sản xuất vũ khí giết người tập thể mới được chuyển đến cho các thành viên khác trong HĐBA. Sự thận trọng này của Hoa Kỳ là cần thiết, nhưng là một bất thường trong tổ chức của Liên hiệp quốc báo hiệu giờ cáo chung của nó.

            Khối NATO cũng khó yên lành. Được thành hình từ năm 1949 để bảo vệ Âu châu trước sự đe dọa của khối Xô viết, khối NATO đã biến thái và bây giờ thu nhận cả một số nước trước kia trong khối Xô viết. Nhiệm vụ của nó không còn để chống Liên bang Nga nữa mà để duy trì hòa bình tại Âu châu là chính. Sau cuộc biểu quyết sóng gió sắp tới tại HĐBA, sự đoàn kết của các nước trong khối NATO khó duy trì. Trước thái độ bất thân thiện của Đức, Hoa Kỳ sẽ không thấy thoải mái để duy trì binh lính trên nước Đức.

            Thế chiến lược trên bán đảo Triều Tiên cũng không thể giữ nguyên trạng. Bị tổng thống Bush liệt vào hàng ma quỷ, Bắc hàn thấy không còn hy vọng gì đóng vai hiền lành giả vờ hòa giải với Nam hàn và biết rằng sau khi giải quyết xong Iraq, Hoa Kỳ sẽ chiếu cố đến mình nên đã xé bỏ mọi cam kết với Hoa Kỳ năm 1994, đuổi thanh tra nguyên tử quốc tế ra khỏi nước, cho chạy lại các lò nguyên tử có khả năng sản xuất chất liệu chế tạo bom hạt nhân, và rút ra khỏi thoả ước không phổ biến hiểu biết về nguyên tử (Non-Proliferation Treaty). Bắc hàn làm ầm ĩ lên với hy vọng đạt được một thỏa ước bất tương xâm với Hoa Kỳ trong khi Hoa Kỳ đang bận tâm với Iraq.

Nhưng Hoa Kỳ không mắc mưu Bắc hàn. Trong cuộc họp báo ngày 6/3/03 tổng thống Bush nói đó là chuyện địa phương, các nước Nhật bản, Nam hàn, Trung quốc và Liên bang Nga có trách nhiệm giải quyết chung với Hoa Kỳ. Tổng thống Bush biết Kim Chính Nhựt chỉ dọa và sau nữa các nước Nhật và Nam hàn sẽ không thể khoanh tay trút trách nhiệm cho Hoa kỳ nếu thật sự Bắc hàn sản xuất hằng loạt bom nguyên tử.Trên thực tế nếu Bắc hàn có vũ khí nguyên tử sự việc này cũng không nguy hiểm cho Hoa Kỳ bằng kho vũ khí nguyên tử của Pakistan mặc dù Pakistan đang là đồng minh của Hoa Kỳ. Pakistan là một nước Hồi giáo, dân Pakistan đa số chống Mỹ. Tính đồng minh của Pakistan chỉ có tính cách giai đoạn và có thể thay đổi khi tình hình thế giới thay đổi. Khả năng vũ khí nguyên tử lọt vào tay Al Qaeda từ Pakistan cao hơn từ Bắc hàn. Nếu Bắc hàn có bom nguyên tử các nước bị đe dọa là Nhật bản và Nam hàn.

Trong cuộc đôi co này ông Roh Moo-hyan tân tổng thống Nam hàn bênh vực Bắc hàn. Khi phản lực cơ Bắc hàn uy hiếp máy bay trinh thám của Hoa Kỳ ngoài khơi biển Nhật bản, ông Roh Moo-hyan chỉ trích Hoa Kỳ thay vì tố cáo Bắc hàn khiêu khích. Đã đến lúc Nam hàn thấy không cần quân đội Hoa Kỳ đóng trên đất nước mình. Trước tình huống này một sự tái phối trí quân lực Mỹ tại Thái Bình Dương - cũng như tại Âu châu - là điều không thể tránh khỏi.

Đó là bức tranh của thế giới trước và sau khi Iraq bị giải giới. Không ai có thể tiên đoán những gì sẽ xẩy ra trong năm hay 10 năm tới.

Nhưng “cùng tất biến, biến tất thông.”

 

Trần Bình Nam

March 8 – 2003

BinhNam@earthlink.net

http://www.vnet.org/tbn

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn