CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH 2003 &

BÓNG MA CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

 

 

Trần Bình Nam

 

Lời nói đầu: Cuộc chiến tranh Iraq (hay cuộc chiến vùng Vịnh II – CCVV2) khởi sự ngày 20/3/2003 đã được gần 3 tuần lễ. Quân đội Hoa Kỳ sắp tiến vào thành phố Baghdad và những trận đánh lớn đang bước vào giai đoạn kết thúc. Nhưng hệ lụy của cuộc chiến còn dài. Sau đây là những nét chính của một bài phân tích dưới nhan đề: “Iraq And The Spectre of Vietnam” (Iraq và bóng ma cuộc chiến Việt Nam) đăng trên tờ Australian Financial Review số ngày 4/4/03 của giáo sư Martin Stuart-Fox, thuộc ban sử học đại học Queensland, Úc châu.  Giáo   Stuart-Fox là một trong những người từng theo dõi và nghiên cứu cuộc chiến Việt Nam. Úc châu là một trong những nước đang có quân tham chiến bên cạnh quân đội Hoa Kỳ.

            Đọc bài phân tích với những luận cứ vững chắc dưới đây độc giả  cảm tưởng tổng thống Bush và bộ tham mưu của ông đã sai lầm khi khởi binh đánh Iraq. Nhưng có thể giáo sư Martin Stuart-Fox đã  lập luận trong một khung cảnh thế giới bình thường của thời trước 11/9 năm 2001 và không đặt mình vào vị trí của tổng thống Bush sau 11/9 là nếu không hành động thì Hoa Kỳ (chưa nói đến thế giới tây phương) sẽ bị đe dọa như thế nào. Một cuộc tấn công khủng bố khác khốc liệt hơn có thể xẩy đến bất cứ lúc nào,   tổng thống Bush sẽ trả lời thế nào với dân chúng Hoa Kỳ? Nhìn dưới góc cạnh đó chúng ta có thể thông cảm với tổng thống Bush và bộ tham mưu cực hữu của ông. Họ rơi vào một cái thế – và có thể một thời cơ – phải hành động.

 

            Mâu thuẫn lớn của thế giới hôm nay là “chủ chiến” hay “chủ hòa” đều có tính thuyết phục. Tại sao vậy? Vì luật lệ hiện hữu để trật tự hóa thế giới không còn có giá trị tuyệt đối của luật lệ nữa. Thế giới chúng ta đang ở điểm gãy vỡ (breaking point). Và chiến tranh gần như là điều tất nhiên để tìm một trật tự mới. Vấn đề quan trọng nhất là làm sao thế giới chúng ta đang sống ít đổ vỡ trước khi đến điểm cân bằng mới. Cuộc chiến du kích tại Việt Nam đã kéo dài làm cho Hoa Kỳ mệt mỏi và thất trận vì Hoa Kỳ không có kế hoạch đánh đầu nảo. Lần này cuộc chiến du kích của người Iraq khó kéo dài nếu Hoa Kỳ thành công trong quyết tâm  đánh dập đầu nảo.

 

Trần Bình Nam

7 April 2003

 

            Kế hoạch chiến tranh của Hoa Kỳ cần được rút tỉa từ những bài học lịch sử. Sau gần 3 tuần lễ khởi chiến CCVV2 ai cũng đồng ý rằng cuộc chiến đã  diễn ra không như kế hoạch. Quân lính Iraq đã chống trả mãnh liệt hơn dự tính; một số đơn vị dùng du kích chiến; dân Iraq không nổi dậy chống Saddam Hussein và không xem liên quân Anh-Mỹ như những người đến để giải phóng họ. Có nhiều cách giải thích sự việc này: dân Iraq còn sợ; bộ máy khủng bố của Saddam Hussein vẫn còn đó; đoàn quân được tổ chức đặc biệt trung thành với ông Hussein dọa bắn bỏ bất cứ người lính nào không chịu cầm vũ khí chống lại liên quân; thành phần Hồi giáo Shia chưa dám đứng lên vì sợ Hoa Kỳ bỏ rơi  như 12 năm trước.

            Cũng có cách giải thích khác như:  những cuộc không kích ít kết quả vì phi công tránh gây thiệt hại dân sự, trong khi lính Iraq chuyển những cơ sơ quân sự vào lẩn với dân. Mặt khác vì sự trở mặt của Thổ Nhĩ Kỳ không cho Hoa Kỳ mượn đường mở mặt trận phía Bắc. Một tướng lãnh Hoa Kỳ trách bộ quốc phòng Mỹ đã không chương trình hóa mọi tình huống của sự chống trả của Iraq thành những chương tình điện toán...

            Ai cũng đồng ý cuộc tiến quân nếu có chậm cũng chỉ là bước đầu. Hoa Kỳ đã và sẽ thêm quân tăng viện, và tổng thống Bush nói cuộc chiến sẽ kéo dài cho đến khi toàn thắng.

            Nhưng khả năng chống trả của Iraq không phải là điều đáng ngạc nhiên. Đáng ngạc nhiên là tại sao những nhà hoạch định chiến lược chiến tranh không tiên liệu khả năng chống trả đó. Trước hết chế độ Iraq không có sự lựa chọn nào khác hơn là chống trả để sống còn. Và vì ở thế yếu, Iraq phải xử dụng bất cứ cách chống trả nào.

            Hoa Kỳ, nhờ kinh nghiệm của ông Colin Powell, có rút một số bài học về cuộc chiến Việt Nam đem áp dụng trong cuộc chiến vùng Vịnh  năm 1991 (CCVV1) như, về phương diện quân sự: dùng toàn lực để kết thúc chiến tranh thật nhanh; hạn chế tổn thất tối đa, kiểm soát chặt chẽ thông tin chiến trường. Về phương diện chính trị: đánh giá cao sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, và dư luận trong thời đại tin học. Nhờ vậy trong CCVV1 không ai nhắc đến bóng ma của cuộc chiến Việt Nam.  

            Nhưng trong CCVV2 có nhiều vấn đề liên quan đến cuộc chiến Việt Nam đã không được học hỏi, nghiên cứu và áp dụng.

Trước hết là vấn đề chính trị. Cuộc chiến Việt Nam (hay cuộc chiến Đông Dương 2) là một phần của cuộc chiến tranh lạnh nhằm mục đích ngăn chận làn sóng cộng sản quốc tế. Nhưng dù vậy Hoa Kỳ cũng đã không thuyết phục được nhiều nước tham gia. Ngoài Úc và Tân Tây Lan, chỉ có vài nước Á châu tham dự (Nam Hàn, Thái Lan, Phi luật Tân – đổi lại bằng viện trợ). Hai đồng minh thân cận của Hoa Kỳ, và là thành viên của tổ chức phòng thủ Đông Nam Á châu (SEATO) là Anh và Pháp không tham dự. Anh tham dự cuộc chiến Malaysia, và Pháp trong cuộc chiến Đông Dương 1, và là hai nước có nhiều kinh nghiệm chống du kích cộng sản.

            Điều người Anh và người Pháp biết, nhưng Hoa Kỳ không quan tâm là trong cả hai cuộc chiến Đông Dương người lính Việt không phải chiến đấu vì chủ nghĩa cộng sản mà chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc và thuộc địa. Người cộng sản đã lãnh đạo cuộc chiến nhân danh chủ nghĩa quốc gia.

            Thiếu sự ủng hộ quốc tế và của các đồng minh thân thiết, thế chính trị của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam không mạnh, mặc dù các nước đồng minh này luôn luôn đứng bên cạnh Hoa Kỳ trong các mặt trận khác của cuộc chiến tranh lạnh. Có phải đó là một trong những nguyên nhân tại sao Hoa Kỳ đã thua tại Việt Nam và đã thắng trận chiến tranh lạnh?

            Trong CCVV1 Liên hiệp quốc đã đứng về phía Hoa Kỳ, kể cả những nước Hồi giáo như Saudi Arabia, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ. Hai nước Đức và Nhật tuy không gởi quân tới đã đóng góp một số tiền rất lớn. Trái lại, lần này không có nước nào bên cạnh ngoại trừ Anh quốc. Úc giúp một ít quân. Ý, Tây Ban Nha, Nam Hàn, Phi Luật Tân và Nhật chỉ giúp cho có lệ. Hình như Hoa Kỳ đã không nỗ lực thuyết phục các nước Hồi giáo   cho là vô ích. Ngay cả đối với Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ cũng chưa nỗ lực đúng mức.

            Vấn đề chuẩn bị dư luận cũng là một phần quan trọng của vấn đề chính trị trong toàn bộ kế hoạch chiến tranh. Trước hết, cần phải thuyết phục quần chúng tại sao phải có chiến tranh, và sự thuyết phục phải dựa trên một căn bản đạo lý. Hoa Kỳ đã không thuyết phục được dư luận trong cuộc chiến Việt Nam, cuối cùng chỉ dựa vào thống kê bao nhiêu lính cộng sản đã bị giết trên chiến trường xem như là thành quả của nỗ lực ngăn chận làn sóng đỏ. Cho nên Hoa Kỳ phải rút  ra khỏi Việt Nam không phải vì bị Bắc việt đánh bại, hay do báo chí phản chiến mà chỉ vì cuộc chiến thiếu chính nghĩa trước mắt người Mỹ.

            Trong CCVV1 chiến tranh có chính nghĩa rõ ràng: một nước trong Liên hiệp quốc xâm lăng một nước khác và cần chận đứng. Chính nghĩa này vượt lên trên những điều khác như không để cho toàn bộ kho dầu Trung đông rơi vào tay Iraq, một quốc gia thù nghịch với tây phương. Đối với cuộc CCVV1 Hoa Kỳ nắm được chính nghĩa trước khi xuất quân.

            Đối với CCVV2, Hoa Kỳ đã thất bại trong việc chuẩn bị dư luận. Ai cũng đồng ý Saddam Hussein là một nhà độc tài tàn ác, nhưng không ai đồng ý với những lý lẽ Hoa Kỳ đưa ra để biện minh tại sao phải hạ bệ ông ta. Lý do trả thù cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 (2001) giết gần 3000 người Mỹ Hoa Kỳ đưa ra để đánh Afghanistan được thế giới chấp nhận. Nhưng đi xa hơn, lần này đánh Iraq, nói là để chống khủng bố thì Hoa Kỳ không có dữ kiện vững chắc để cột Iraq với nhóm al-Qaeda. Hoa Kỳ cũng không đưa ra được bằng chứng không thể chối cãi rằng Saddam Hussein có vũ khí giết người tập thể, nhất là khi Hoa Kỳ không chịu để thêm thì giờ cho đoàn thanh tra vũ khí Liên hiệp quốc tìm kiếm khi đoàn thanh tra này yêu cầu.

            Trong bối cảnh đó, lời tuyên bố của tổng thống Bush rằng Hoa Kỳ muốn giải phóng dân Iraq ra khỏi kềm kẹp của độc tài và kiến tạo một mẫu mực dân chủ cho thế giới A Rập lại càng ít có sức thuyết phục hơn. Trái lại cả thế giới hình như đều thấy rằng Hoa Kỳ đã có định kiến nhất định chiếm Iraq, thực hiện nốt những gì CCVV1 chưa làm được là kiểm soát kho dầu hỏa, bảo vệ Do Thái, và chiếm thế thượng phong chiến lược lâu dài tại Trung đông. Kết quả là Hoa Kỳ và một vài chính phủ – chính phủ chứ không phải nhân dân – đồng minh không tạo nổi một căn bản luân lý có tính thuyết phục thành phần trí thức trên thế giới.

            Bài học thứ hai từ cuộc chiến Việt Nam là phải huy động tối đa sức mạnh quân sự để thu ngắn cuộc chiến và làm cho tổn thất – quân sự cũng như dân sự - thật ít. Ông bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld đã lầm khi khuyến cáo bộ quốc phòng Mỹ không nên huy động tối đa binh lực vì lý do chính trị (mặc dù khi bị phê bình ông nói ông không khuyến cáo như vậy).

            Về tổn thất, thì giảm tổn thất quân sự là một đòi hỏi chính trị. Trong cuộc chiến Việt Nam không có hình ảnh nào làm mất tinh thần dân chúng Mỹ bằng cảnh hằng ngày thấy máy bay chở xác lính về. Mới đây chính phủ Hoa Kỳ đã phản ứng mạnh mẽ khi truyền hình các nước Ả Rập chiếu một số binh sĩ Hoa Kỳ chết trận cho thấy Hoa Kỳ nhạy cảm như thế nào về vấn đề tổn thất. Nếu CCVV2 kéo dài và nhiều tổn thất sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự ủng hộ của quần chúng và làm thay đổi bàn cờ chính trị nội bộ Hoa Kỳ.

Thứ đến là tổn thất dân sự. Chiến tranh Việt Nam cho thấy dân chúng Hoa Kỳ đã hết sức xúc động thấy tổn thất của dân chúng trong vùng lửa đạn mà người lính trong điều kiện của chiến trường đôi khi không tránh được. Điều này dễ hiểu. Vì xã hội dân sự hoạt động trên căn bản đạo lý không chấp nhận cảnh bắn giết và tàn phá. Trong CCVV1 dân chúng ít thấy hình ảnh tổn thất dân sự ngoại trừ một lần một hỏa tiễn rơi trúng một hầm trú ẩn của dân ở thành phố Baghdad. Trong cuộc chiến này các hệ thống truyền hình Hoa Kỳ tế nhị tránh chiếu cảnh dân chúng chết chóc, nhưng các phóng viên được đi theo các đơn vị vẫn báo cáo bằng hình ảnh những tổn thất dân sự họ thấy được như một phần của nghề nghiệp.

            Việc này đưa đến một vấn đề mới là nhiệm vụ của truyền thông khi loan tải tin tức chiến sự của hình thái chiến tranh tối tân hiện nay. Thành phần khuynh hữu Hoa Kỳ kết án truyền thông đã làm Hoa Kỳ thất trận tại Việt Nam vì đã thổi phồng ảnh hưởng của trận Mậu Thân (1968), thí dụ như chỉ cho người dân Mỹ thấy mặt tàn bạo của chiến tranh bên phía mình mà không thấy phía bên kia, và những bài bình luận thiên lệch. Đó là lý do tại  sao trong CCVV1 giới chức quân sự đã kiểm soát tin tức. Cái khác của cuộc chiến lần này là ngoài nguồn thông tin chiến sự phía tây phương, còn có các nguồn tin từ phía bên kia, nhất là hệ thống truyền hình A Rập al-Jazeera. Đài truyền hình và đài phát thanh của Iraq vẫn là công cụ tuyên truyền như đài HàNội trước đây, nhưng các nguồn thông tin độc lập bên phía A Rập không thể liệt hết vào loại tuyên truyền. Mặc khác trong cuộc chiến Việt Nam, tin tức chiến sự chỉ được phổ biến vào các buổi phát thanh chiều trên các đài truyền hình chính, tin tức chiến sự của CCVV2 có sẵn 24 giờ trên 24 giờ trên nhiều hệ thống truyền hình. Do đó, bộ quốc phòng Mỹ dù muốn cũng không thể kiểm soát truyền thông.

            Trước đây, trong cuộc chiến Việt Nam, lúc dầu dư luận tây phương chấp nhận cuộc chiến như một phần của cuộc chiến tranh lạnh, nhưng dần dần, qua khai thác truyền thông và phong trào phản chiến Hà Nội đã giành chính nghĩa về phía họ. Lần này, khó cho Hoa Kỳ hơn vì dư luận đã không thuận lợi từ đầu ngay tại nước Mỹ.

            Bài học thứ ba là nhận định tinh thần của địch. Quân nhân Mỹ chiến đấu tại Việt Nam không hiểu tại sao lính Bắc Việt chiến đấu gan góc như vậy. Lý do   họ nghĩ họ chống xâm lăng. Sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ làm cho tự ái quốc gia của người Việt tổn thương. Trong CCVV1 người lính Iraq không có tinh thần vì không có chính nghĩa khi xâm lăng Kuwait. Lần này thì họ biết họ chiến đấu để bảo vệ đất nước. Lịch sử của trận thế chiến thứ 2 cho chúng ta thấy toàn dân Liên bang Xô viết đã đứng sau lưng nhà độc tài khát máu Stalin chống lại Đức quốc xã để bảo vệ nước Nga. Những người lính Iraq hiện nay không chiến đấu vì Saddam Hussein mà vì tự ái của tôn giáo và dân tộc Ả Rập.

            Điều làm nhiều người thắc mắc là tại sao Hoa Kỳ không thấy được điều này. Đây là nhược điểm có tính đặc thù của chính quyền George W. Bush. Ngoài ông Colin Powell, không có ai trong bộ tham mưu của Bush có kinh nghiệm chiến tranh. Bản thân tổng thống Bush trong tuổi động viên cũng tránh không chiến đấu tại Việt Nam. Ông ta ít đi đây đi đó và không hiểu biết nhiều cách sống và suy nghĩ của các dân tộc khác. Ông Bush và đa số bộ tham mưu của ông là những người có một lý tưởng quá khích, tin rằng lối sống và suy tư của Hoa Kỳ là nhất. Một bộ tham mưu như vậy khó đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để hiểu người.

            Bài học thứ tư là nhận định chiến thuật. Trước một lực lượng áp đảo, chiến thuật duy nhất của kẻ yếu là du kích chiến. Hoa Kỳ không tiên liệu được rằng quân đội Iraq sẽ biến thành những đội du kích trước sức mạnh của liên quân, hay ít nhất lực lượng không chính qui Fedayeen sẽ khoác thường phục lẫn vào quần chúng. Du kích chiến không làm cho Iraq thắng trận nhưng sẽ ngăn không cho liên quân ổn định tình hình và tuyên bố chiến thắng.

            Liên quân sẽ vào Baghdad, và cuộc chiến du kích bắt đầu. Sẽ có những trận đánh trên đường phố, những trận phục kích, những vụ tự sát... Liên quân sẽ đưa thêm quân, và tổn thất dân sự càng ngày càng được thấy trên màn ảnh truyền hình. Và biết đâu sau một thời gian  liên quân bắt đầu đếm xác chết của du kích quân Iraq để đo lường sự tiến bộ của công cuộc bình định như trong cuộc chiến Việt Nam.

            Cuộc chiến tiếp tục dù Saddam Hussein còn sống hay chết và chế độ của ông ta đã bị lật nhào. Cũng giống như những người Palestine vẫn chiến đấu sau khi Do thái tái chiếm đất đai và thị trấn của họ.

 

Trần Bình Nam

7 April 2003

http://www.vnet.org/tbn

BinhNam@earthlink.net

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn