Cái chết của đức Giáo hoàng John Paul II

 

Trần Bình Nam

 

Thế giới vừa trải qua một cơn bàng hoàng khi được tin đức Giáo hoàng John Paul II sau một thời gian nằm bệnh viện và tĩnh dưỡng đã qua đời.

Đức Giáo hoàng John Paul II, nguyên là Hồng y Karol Wojtyla (vo-TEE-ya) người Ba Lan. Ngài qua đời vào lúc 9:37 phút tối ngày 2 tháng 4 năm 2005 tại Vatican sau 27 năm làm giáo hoàng, hưởng thọ 84 tuổi. Tang lễ của ngài đã được cử hành vào ngày Thứ Sáu 8 tháng 4, với bốn triệu tín đồ thương tiếc ngài đổ về Vatican trong đó có ít nhất một triệu người Ba Lan, và có trên 200 nhân vật tên tuổi có tầm vóc quốc tế gồm 20 đương kim nguyên thủ quốc gia trong đó có tổng thống Hoa Kỳ George Bush, tổng thống Pháp Jacques Chirac và thủ tướng Nga Mikhail Fradkov.

Việc một đức Giáo hoàng qua đời từ bao thế kỷ qua vẫn là một biến cố quan trọng vì đức Giáo hoàng là lãnh tụ tinh thần của đông đảo tín đồ ở khắp nơi trên thế giới. Riêng sự qua đời của đức Giáo hoàng John Paul II càng có ý nghĩa hơn. Dưới thời đại của ngài trên thế giới đã có thêm 250 triệu tín đồ nâng tổng số tín đồ thuộc Giáo hội công giáo La Mã lên trên dưới một tỉ người. Và ngài là đức Giáo hoàng không phải là người Ý sau 455 năm. Vị Giáo hoàng không phải là người Ý trước đức Giáo hoàng John Paul II là đức Giáo hoàng Adrian VI, người Hòa Lan, và chỉ làm giáo hoàng trên dưới một năm (1522 -1523).

Đức Giáo hoàng John Paul II được xem là một vị giáo hoàng bảo thủ đối với các vấn đề thuộc nội bộ Giáo hội Công giáo, nhưng là một giáo hoàng cởi mở nhất về mặt đối ngoại. Trong 27 năm ở chức vị ngài đã đi thăm hơn 100 quốc gia, tiếp xúc với con chiên và với đại diện của hầu hết các tôn giáo lớn khác trên thế giới, mặc dù sức khỏe ngài giảm sút nhiều từ năm 1981 sau khi bị ám sát hụt. Chuyến đi có ý nghĩa nhất của ngài là chuyến về thăm Ba Lan tháng 6 năm 1979, chín tháng sau khi nhậm chức giáo hoàng. Hằng triệu tín đồ đã nồng nhiệt đón tiếp ngài trước sự bỡ ngỡ của đảng Cộng sàn Ba Lan và Bộ chính trị Liên bang Xô viết. Chuyến đi của ngài đã làm cho cái vũ khí của người cộng sản là “áp đặt sự sợ hãi” không còn hiệu lực, và đã tạo một vết nứt nơi bức màn sắt đã cùng với các vết nứt khác (sự thất bại về kinh tế, chính sách của Gorbachev … ) làm sụp đổ chế độ cộng sản tại Đông âu và Liên bang xô viết mười năm sau đó.

Ngài cũng là người đã cứng rắn duy trì những quan niệm của Giáo hội về các vấn đề như phá thai, đồng tính luyến ái, vần đề linh mục có quyền lập gia đình, vấn đề cho phụ nữ làm linh mục trong một thế giới càng ngày càng trở nên vừa phóng túng vừa phóng khoáng dưới ảnh hưởng của vật chất và tiến bộ khoa học.

Nhìn chung, đức Giáo hoàng John Paul II thành công trong việc duy trì quyền uy và uy tín của Giáo hội Công giáo và là vị giáo hoàng được yêu mến nhất của con chiên. Tuy nhiên dưới triều đại 27 năm của ngài thế giới từ Âu châu Mỹ châu, Phi châu và Á châu đã có nhiều biến đổi từ lĩnh vực tôn giáo đến kinh tế và chính trị mà ngài chưa chuẩn bị cho Giáo hội một tư thế để đáp ứng và hóa giải xung khắc.

Tại Âu châu số người sùng đạo cũng như phẩm chất con chiên càng  ngày càng giảm. Tại Hoa Kỳ một số tu sĩ trong giới tăng lữ không giữ phẩm hạnh trở thành một vấn đề bức xúc. Tại châu Mỹ La tinh, nơi có 40% tín đồ trên thế giới, Giáo hội đang chật vật với sự cạnh tranh của đạo Tin Lành, và tại Phi châu và Á châu Công giáo cũng đang gặp sức phát triển của Hồi giáo, Ấn Độ giáo và Phật giáo. Sự phát triển của mọi tôn giáo là điều tốt cho con người, nhưng vấn đề phải giải quyết là làm sao cho sự phát triển trở nên hài hòa chứ không trở thành những đụng chạm. Ngoài ra với khả năng kinh tế đang lên của Ấn Độ và Trung quốc, trọng tâm sức mạnh của thế giới đang chuyển dịch. Sự chuyển dịch này làm cho tiếng nói của tín đồ Công giáo tại Á châu có trọng lượng hơn trước, và làm cho một vấn đề tế nhị khác là Giáo hội công giáo vẫn được xem như là một Giáo hội của người Tây phương trở nên nhức nhối hơn.

Đó là những vấn đề lớn của Giáo hội công giáo mà đức tân giáo hoàng phải xử lý. Trong bản di chúc đức Giáo hoàng John Paul II viết từng đoạn mỗi năm vào dịp trước lễ Phục sinh, năm 1980 ngài đã ghi nhận rằng “con đường trước mắt của Giáo hội càng ngày càng trở nên khó khăn và căng thẳng cho con chiên và cho các giáo sĩ.” Trách nhiệm đó bây giờ ở trong tay của 117 vị Hồng y cử tri bầu tân Giáo hoàng bắt đầu ngày 18 tháng 4.

Có hai câu hỏi thường được đặt ra: Tân giáo hoàng có nên trở lại là một người Ý như hằng bao thế kỷ qua? Hay đã đến lúc chọn một vị giáo hoàng người Nam mỹ, Phi châu hay Á châu? Nếu các Hồng y chọn một vị tân giáo hoàng người Nam Mỹ, người Phi châu hay người Á châu thì những vấn đề trước mắt có thể đã được giải quyết một nửa. Và Giáo hội có nhiều điều kiện để hóa giải giữa những quan niệm có tính cách linh thiêng của Giáo hội với sự tiến bộ về mọi mặt của khoa học. Nhưng hình như điều kiện chưa đủ chín để 117 vị Hồng y hiện diện tại Vatican đi đến sự chọn lựa đó.

Nhưng có một điều không ai nêu ra như một giả thuyết là tân giáo hoàng có thể là một người Mỹ không? Vì sao người ta không nêu ra? Vì Hoa Kỳ đang nắm sức mạnh vật chất trên hoàn vũ, cho  nên nếu có một sự đồng thuận giữa các Hồng y thì đó là sự lãnh đạo tâm linh cần được giao phó cho một vùng đất khác.

 

Trần Bình Nam

April 8, 2005

BinhNam@sbcglobal.net

http://www.vnet.org/tbn

 

 

---

Trn Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn