Nói chuyện với Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam

nhân ngày ra mắt “Đặc San 2002: Quan Điểm Về Việc Phát Triển Việt Nam

ngày 29 tháng 3 năm 2003 tại Little Saigon – California.

 

 

Trần Bình Nam

 

Kính thưa quí vị,

 

Hôm nay tôi rất vinh dự được Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam (KH&KTVN) mời phát biểu nhân buổi ra mắt tập Đặc San 2002 chủ đề: “Quan Điểm Về Việc Phát Triển Việt Nam” vừa mới in xong và phát hành tháng Giêng năm nay. Tập Đặc San này đúc kết những suy nghĩ và ưu tư của các chuyên viên, kỹ thuật gia, cựu viên chức chính quyền cũ, và một số người có một ít kinh nghiệm qua một thời gian ngắn làm việc trong bộ máy chính quyền tại Việt Nam sau năm 1975 về vấn đề phát triển Việt Nam và được trình bày trong buổi hội thảo “Phát Triễn Việt Nam” ngày 18 tháng 11 năm 2001 tại đại học cộng đồng Santa Ana do Hội KH&KTVN tổ chức. Có thể nói tập Đặc San đã bao gồm được tất cả các khía cạnh của vấn đề phát triển Việt Nam và có thể làm tài liệu xuất phát cho những nghiên cứu phát triển khác.

            Vấn đề tôi sẽ trình bày hôm nay là: vấn đề sông Cửu Long đối với việc phát triển Việt Nam và những công trình thủy điện của Trung quốc đã và đang thực hiện trên thượng nguồn sông Cửu Long bên Vân Nam ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển đó, và chúng ta phải làm gì.

            Đây không phải là một vấn đề mới mẻ. Một số quốc gia hạ nguồn sông Cửu Long gồm Lào, Thái, Kampuchia và Việt Nam đã  thành lập “Ủy hội sông Mê Kông” để phối hợp các chương trình phát triển đồng có lợi với nhau (Trung quốc và Miến Điện chỉ tham dự với tư cách quan sát viên). Về phía hải ngoại, nhiều tạp chí, nghị luận và chuyên môn cũng đã đề cập đến vấn đề này. Quí vị trong Mekong Forum đã dành trọn một số và Tập san Đi Tới ở Montréal, Canada dành trọn một số khác để nói về sự quan trọng của sông Cửu Long đối với kinh tế Việt Nam. Và trong Đặc san 2002 của Hội KH&KTVN ra mắt hôm nay cũng có một bài  khá dài của kỹ sư Nguyễn Minh Quang “Nhận xét về trận lụt năm 2000 ở đồng bằng sông Cửu Long” qua đó ông Quang cho độc giả thấy nguyên nhân của vụ lũ lụt và qua đó những bài học cần rút tỉa.

            Người Việt Nam chúng ta ai cũng biết miền Nam là vựa lúa, và hiện nay Việt Nam có khả năng xuất cảng gạo đứng thứ nhì trên thế giới cũng nhờ vựa lúa đó. Và có vựa lúa đó là nhờ sông Cửu Long.

            Nhưng vấn đề được đặt ra là cái tài nguyên thiên nhiên do sông Cửu Long mang lại có bất biến với thời gian không? Câu trả lời là “không”, vì với khả năng khoa học và kỹ thuật bây giờ sức người có thể tác động rất mạnh vào thiên nhiên. Và nếu sự tác động này thiếu nghiên cứu (như trường hợp đào kênh, đắp đường lộ thiếu kế hoạch toàn bộ tại châu thổ sông Cửu Long trong 20 năm qua) hay lệch lạc vì nước này có ưu thế thiên nhiên không quan tâm đến quyền lợi của nước khác (như việc Trung quốc xây dựng bừa bãi các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu Long trong tỉnh Vân Nam) nó có thể có ảnh hưởng đến thiên nhiên và quyền lợi của quốc gia khác.

            Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh trong bài viết “Cái chết của một dòng sông” đăng tải trên nhiều tờ báo hải ngoại cho biết rằng Trung quốc có một chương trình phát triển dài hạn tỉnh Vân Nam khởi đầu từ thập niên 1970, qua đó Trung quốc dự tính xây dựng ít nhất là 8 đập thủy điện nơi thượng nguồn sông Cửu Long. Đập đầu tiên là đập ManWan xây xong năm 1993 có sức sản xuất 1500 MegaWatt (trung bình nếu mỗi gia đình dùng 1000 Watt đập Manwan có thể dùng để cung cấp điện lực cho 1 triệu ruỡi gia đình). Đập Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn) xây xong tháng 12 năm vừa qua có công suất 1350 MW. Một đập khác là đập Xiaowan  vừa được khởi công vào tháng giêng năm 2003 dự trù hoàn tất vào năm 2013 và có công suất là 4200MW. Chi phí xây cất đập Xiaowan là 4 tỉ mỹ kim. Năm đập khác đang ở giai đoạn họa đồ, và sẽ lần lượt hoàn tất trong hai thập niên tới.

            Sự xây dựng các đập thủy điện này ảnh hưởng đến môi thái của toàn bộ rừng núi, đất đai chung quanh dòng nước của sông Cửu Long chảy qua các nước hạ nguồn nhưng không thấy quốc gia nào tỏ vẻ lo âu. Các cơ sở kinh tế tài chánh Liên hiệp quốc mà quan trọng nhất là Ngân Hàng Thế Giới hình như cũng chưa để tâm tới. Một phần vì Trung quốc không tiết lộ nhiều chi tiết kỹ thuật về các dự án xây cất của mình, một phần Trung quốc trấn an các nước hạ nguồn rằng họ đã khảo sát kỹ lưỡng về ảnh hưởng môi sinh, dòng nước.

            Trung quốc lý luận rằng: “Các đập thủy điện ngăn nước giúp giảm lũ lụt vào mùa mưa và giữ nước lại cho mùa hè hạ nguồn khỏi bị khô cạn” Điều đó đúng nhưng Trung quốc không trả lời các câu hỏi như: “Nếu gặp mùa mưa quá lớn, đập tràn phải xã nước, hạ nguồn bị nước tràn đột ngột sinh ra lũ lụt thì sao.”, và “nếu gặp hạn hán thượng nguồn giữ hết nước cho đập, hạ nguồn khô cạn, nước biển tràn vào làm nhiễm mặn đồng ruộng thì sao?”

            Nói cách khác khi trời trở chứng (như mưa lụt lớn hay nắng hạn lâu ngày) thì dòng nước sông Cửu Long chảy qua các nước hạ nguồn hoàn toàn nằm trong tay của Trung quốc. Vụ “lụt sông Cửu Long năm 2000” kỹ sư Nguyễn Minh Quang cho nguyên nhân do sự đào sông và xây đường không có kế hoạch trong thời gian từ 1980 đến năm 2000, nhưng biết đâu ảnh hưởng của đập Manwan đối với trận lụt này cũng không phải là không đáng kể.

            Nhưng điều quan trọng nhất đối với châu thổ sông Cửu Long là phù sa. Các đập sẽ giữ phù sa, nước sông càng ngày càng nghèo phù sa, đồng ruộng khô cằn dần và nhiễm mặn. Việt Nam sẽ không còn là một vựa lúa nữa.

Kinh tế gia Đinh Hinh, viên chức của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) phụ trách vùng Tây Phi hiện làm việc tại Hoa Thịnh Đốn (và là chuyên viên một thời phụ trách nghiên cứu một mô hình phân phối nước của con sông Eupharates cho ba nước Thỗ Nhĩ Kỳ, Iraq và Syria đưọc 3 nước này công nhận và hiện đang còn hiệu lực áp dụng) khi được hỏi ý kiến về vấn đề xây cất của Trung quốc nơi thượng nguồn sông Cửu Long đã cho biết đó là điều ông ta hết sức lo lắng. Ông Đinh Hinh nói rằng nếu không ai làm gì hết cứ để cho Trung quốc tiếp tục các kế họach thủy điện của họ tại Vân Nam như hiện nay thì hậu quả đối với các nước hạ nguồn sẽ vô cùng to lớn và thê thảm trong vòng một trăm năm tới. Ông ta nghĩ không thể chờ Ngân Hàng Quốc Tế có sáng kiến nghiên cứu mô hình phân phối nước của sông Mêkông như họ đã làm ở Trung Đông. Cách tốt nhất là các nước hạ nguồn (mà nhất là Việt Nam là nước lớn nhất, bị ảnh hưởng nhiều nhất) lên tiếng yêu cầu Ngân Hàng Quốc Tế lập kế hoạch nghiên cứu mô hình giúp.

Sự de dọa này các nước trong Ủy hội sông Mê Kông (trong đó có Việt Nam) đều biết. Nhưng cho đến lúc này chỉ   Kampuchia là nước duy nhất lên tiếng và lên tiếng một cách hết sức dè dặt. Vấn đề là hiện nay tất cả các nước hạ nguồn đều ít nhiều nhận viện trợ của Trung quốc và đều chịu ảnh hưởng chính trị của Trung quốc nên không nước nào muốn to tiếng với người anh lớn phương Bắc. Mặt khác vì hậu quả là chuyện của hàng chục hay trăm năm tới nên không ai cảm thấy thúc bách.

Gần đây một chuyên viên Việt Nam có chân trong Ủy hội sông Mê Kông khi được hỏi họ có biết những hệ lụy của các đập thủy điện Trung quốc đối với tương lai kinh tế Việt Nam không và chính quyền hiện nay có những biện pháp gì để ngăn ngừa thì chuyên viên đó nói biết hậu quả nhưng họ không làm gì được vì hiện nay đối với Bộ chính trị vấn đề này là một vấn đề chính trị chứ không còn trong lĩnh vực của các chuyên viên nữa. Ngày 16/3 vừa qua có một “Hội nghị Toàn Cầu Về Nguồn Nước” họp tại Kyoto, ông Bùi Đình Thiện đại diện cho chính quyền Việt Nam trong Ủy hội sông Mêkông đi tham dự. Đây là một dịp rất tốt để Việt Nam lưu ý cộng đồng quốc tế về việc xây cất của Trung quốc nhưng rất tiếc khi được cô Ánh Trân một phóng viên của đài Tiếng Nói Tự Do Á Châu phỏng vấn hỏi các kế họach xây cất của Trung quốc nơi thượng nguồn có đe dọa gì đối với các nước hạ nguồn không, ông trả lời: “không bị đe dọa gì nhiều”.

Với tình hình này, tôi có một đề nghị đối với Hội KH&KT Việt Nam. Hội cần phối hợp với nhóm Mekong Forum chính thức kêu gọi chính quyền Việt Nam lưu tâm đến hậu quả của các kế họach xây cất đập thủy điện của Trung quốc, và đồng thời vận động  Ủy Hội sông Mêkong lên tiếng mạnh mẽ hơn. Tôi nghĩ nếu đặt thành vấn đề một cách xác đáng chính quyền Việt Nam không thề làm lơ vụ việc này được.

Đã đành chính quyền Việt Nam hiện nay đang có những mối quan hệ tế nhị đối với Trung quốc nên họ cũng mất một ít tự do hành động, nhưng những quan hệ tế nhị đó là chuyện nhất thời. Chuyện an ninh và quyền lợi của đất nước là chuyện lâu dài.

Hãy nhìn bản đồ Việt Nam hôm nay. Nhìn lên phiá Bắc, nếu các nguồn thông tin về biên giới là chính xác thì qua hiệp định biên giới ký cuối năm 1999 chúng ta đã mất các cao điểm phòng vệ, biên giới hầu như vĩnh viễn bị bỏ ngỏ và bị đe dọa khi quan hệ Hoa Việt trở thành cơm không lành canh không ngọt. Nhìn ra phiá Đông, kho dầu hỏa trong quần đảo Trường Sa cũng đang bị uy hiếp mà không ai thấy chính quyền Hà Nội có một kế sách quân sự nào để bảo vệ. Nhìn xuống phiá Nam, nơi các nhánh sông Cửu Long đang cuồn cuồn chảy mang tôm cá lúa gạo đến cho 80 triệu con người thì đang bị đe dọa khô cằn bởi những công trình xây cất vô trách nhiệm của người bạn khổng lồ ở phương Bắc.

Trước bức tranh đó, không một chính quyền có trách nhiệm nào có thể ngồi yên không hành động. Và người Việt, trong nước cũng như hải ngoại không ai có thể ngồi yên không lên tiếng.

Xin kính chào qúi vị.

 

Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn

BinhNam@earthlink.net

 

Tài liệu tham khảo:

 

1.     “Asian Development Bank Studies More Mekong Dams” by Patrick McCully (World Rivers Review, Vol. 12, No. 1, Feb. 1997)

2.     “Officials warn against degrading environment along Mekong Basin” (Associated press Sept. 26, 2002)

3.     “Cái chết của một dòng sông” Ts. Trần Tiễn Khanh

4.     “The Voice of America” chương trình Việt ngữ, cô Phương Lan phỏng vấn Ts. Trần Tiễn Khanh về “Cái chết của một dòng sông”

5.     “Tiếng Nói Tự Do Á Châu” cô Ánh Trân  phỏng vấn ông Bùi Đình Thiện, đại diện Việt Nam trong Ủy hội Sông Mêkông tham dự hội nghị “Toàn Cầu về Nguồn Nước” tại Kyoto ngày 16/3/2003.

6.     Tạp Chí Đi Tới, số chủ đề “sông Mekông”

7.     “Nhận Xét về Trận Lũ Lụt năm 2000 ở đồng bằng sông Cửu Long” kỹ sư Nguyễn Minh Quang (Đặc San 2002: Quan Điểm Về Việc Phát Triển Việt Nam)

8.     “Thử Tìm Hiểu Những Nguyên Nhân Lũ Lụt Lớn tại Đồng Bằng Sông Cửu Long” Ts. Trần Tiễn Khanh (8/2001)

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn