THÁNG 9 NGÀY 11

MỘT NĂM SAU

 

Trần Bình Nam

 

“Hôm nay chúng ta hội họp ở đây đúng một năm và một ngày kể từ hôm  quân khủng bố mang đau thương và tang tóc đến cho đất nước tôi đồng thời giết nhiều công dân của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày hôm qua là ngày để tưởng niệm, và ngày hôm nay là ngày chúng ta bắt tay vào việc bảo vệ mạng sống của những người khác một cách không sợ hãi và không ảo tưởng hão huyền.” Đó là lời mở đầu của tổng thống George W. Bush trước đại hội đồng Liên hiệp quốc tại New York ngày 12/9/2002.

 

Lời mở đầu của tổng thống Bush hàm ý “chúng tôi phải hành động nếu chúng tôi không muốn bị kẻ thù giết”. Đó là lời cảnh giác của Hoa Kỳ rằng chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Iraq khó tránh. Không khí chuẩn bị chiến tranh của Hoa Kỳ vào ngày 12/9/2002 không khác ngày 12/9/2001. Ngày đó ai cũng biết Hoa Kỳ phải ra tay bằng cách này hay cách khác.

 

Nhìn lại một năm qua, dân chúng Hoa Kỳ bắt đầu quen với không khí khẩn trương và trở lại với sinh hoạt bình thường của đời sống, mặc dù đánh dấu một năm ngày khủng bố chính phủ Hoa Kỳ đã đặt toàn quốc trong tình trạng báo động vàng. Trong 6 tháng qua, từ trận đánh lớn ở Shahikhot trong vùng biên giới Afghanistan và Pakistan trong tháng 3/2002 không khí chiến tranh tại Afghanistan trở nên lắng dịu. Công tác lùng diệt diệt các ổ khủng bố của Taliban và Al Qaeda tại Afghanistan và khắp nơi trên thế giới diễn tiến tốt đẹp.

 

Về mặt đối ngoại Hoa Kỳ thắt chặt thêm được mối bang giao với Trung quốc, Liên bang Nga và Ấn Độ. Tuy nhiên thế giới tỏ ra dè dặt hơn trước sự chuẩn bị đánh Iraq của Hoa Kỳ. Sau ngày đọc diễn văn trước diễn đàn Liên hiệp quốc tổng thống Bush bắt tay vào những việc cần thiết  như vận động tranh thủ sự chấp thuận của Hội Đồng Bảo An Liên hiệp quốc, và thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ. Tổng thống Bush cũng không quên chuẩn bị những gì cần thiết để tránh sự rối loạn ở Trung Đông sau khi chế độ Saddam Hussein bị lật đổ. Nhiều nước trên thế giới dùng gương tự chế của tổng thống Kennedy đối với Cuba năm 1961 (phong toả tàu bè thay vì tấn công) để thuyết phục tổng thống Bush cần tìm một hình thức trừng phạt nào đó không phải là chiến tranh để buộc Saddam Hussein nhượng bộ. Nhưng có một khác biệt căn bản ở đây. Năm 1961 Hoa Kỳ đối đầu với một đế quốc (Liên bang Xô viết) nhiều tham vọng nhưng  biết tự chế. Lúc này Hoa Kỳ đang đối đầu với một địch thủ đã coi thường và đã vượt  qua mọi biện pháp trừng phạt quốc tế. Cho nên nếu năm 1961 tổng thống Kennedy có thể chọn con đường phong tỏa Cuba thay vì đánh phủ đầu, tổng thống Bush hiện nay ít có lựa chọn hơn.

 

Thanh tra vũ khí, phong tỏa kinh tế với hằng chục quyết nghị của Liên hiệp quốc vẫn không ngăn được quyết tâm chế tạo vũ khí giết người tập thể của Saddam Hussein. Và với bức tranh của cuộc tấn công ngày 11/9/2001, một cuộc tấn công tai hại hơn có thể xẩy đến bất cứ lúc nào nếu tổng thống Bush không khẩn trương hành động.

 

Ngày 20/9/2001, trước diễn đàn Liên hiệp quốc tổng thống Bush xác lập chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Chính sách này đổi hướng chính sách của ông từ ngày đắc cử.  Tổng thống Bush nói: “Qúi vị sẽ đi với chúng tôi hay đi với những kẻ khủng bố” và tổng thống thêm rằng, qúi vị sẽ đứng với thế giới văn minh tôn trọng lẽ phải hay đứng với cái xấu và ma quỹ. Qúi vị hãy chọn lựa, và coi chừng hậu quả nếu chọn lựa không đúng.

 

Trong khung cảnh của thế  giới sau ngày 11 tháng 9, lời cảnh cáo của tổng thống Bush nhắm vào Pakistan, Iraq, Iran, Yemen, Lybia ... hơn là nhắm vào Âu châu. Nhưng lối nói chung chung của Bush làm cho các nước đồng minh Âu châu, Liên bang Nga và Trung quốc khó chịu. Nó xác định tính cách đệ nhất siêu cường của Hoa Kỳ và quyền hành động để tự vệ.

 

Nhưng dù khó chịu Nga và Trung quốc hiểu cái thế của Hoa Kỳ và chuyển sang thái độ hợp tác. Vladimir Putin nhượng bộ Hoa Kỳ trong một số vấn đề trước đây ông ta rất cứng rắn. Ông ta chấp nhận sự việc Hoa Kỳ đơn phương rút ra khỏi thỏa ước về hỏa tiễn liên lục địa (anti-ballistic missile treaty) ký năm 1972 để trang bị một hệ thống phòng thủ chống hoả tiễn, thuận  để cho Hoa Kỳ dàn quân ở  Uzbek và Georgia, từng là đất nhà bất khả xâm phạm của đế quốc Liên Xô. Tất cả để đổi lại sự im lặng của Hoa Kỳ trước sự đàn áp nhóm Hồi giáo nổi loạn đòi độc lập ở Chechnya và nhất là để Hoa Kỳ rộng tay giúp Nga phương tiện tài chánh để tổ chức lại nền kinh tế đang đi xuống. Trung quốc cũng vậy, tỏ ra thông cảm với Hoa Kỳ để giải quyết vấn đề Hồi giáo của mình trong vùng tây bắc, đồng thời làm cho Hoa Kỳ bớt dòm ngó đến tình trạng vi phạm nhân quyền tại Trung quốc. Trung Quốc cảm thấy còn yếu để khai thác thế khó khăn của Hoa Kỳ.

 

Đối với đồng minh Âu châu Hoa Kỳ ít thành công hơn. Hoa Kỳ công khai nói cần sự hợp tác của đồng minh, nhưng khi hành động lại hành động đơn phương. Và điều này thấy rõ hơn sau trận đánh Afghanistan kết thúc gọn nhẹ hơn người ta ước đoán. Hai tháng sau cuộc tấn công đại diện mậu dịch Hoa Kỳ, ông Bob Zoellick tuyên bố tại hội nghị của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới họp tại Doha (tiểu quốc Qatar) rằng mậu dịch quốc tế tự do là một phần của vũ khí chống khủng bố toàn cầu. Hoa Kỳ đã gởi quân đến Columbia chống bọn buôn bán ma túy và đến Pakistan, Phi Luật Tân tảo thanh bọn khủng bố. Tuy nhiên, bị thúc đẩy bởi thế siêu cường độc nhất Hoa Kỳ một mặt rút ra khỏi thỏa ước Kyoto (nhằm mục đích kiểm soát độ tăng nhiệt độ của bầu khí quyễn) trước sự kinh ngạc và tức giận của các nước Âu châu, mặt khác tự ý tăng thuế quan thép nhập cảng để bảo vệ quyền lợi lao động và quyền lợi chính trị của đảng cầm quyền, tăng trợ cấp cho nông dân Hoa Kỳ để ép giá nông phẩm của các nước khác. Và Hoa Kỳ chỉ thuận chấp nhận thẩm quyền của tòa án quốc tế (International Criminal Court –ICC) với một số điều kiện sau khi đã dùng áp lực tái chánh đối với lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc không thành công.

 

Hành động của tổng thống Bush đã làm cho nỗ lực giải quyết vấn đề Iraq với Saddam Hussein của Hoa Kỳ trở nên khó khăn. Ba nước (Pháp, Liên bang Nga, Trung Hoa) trong Ủy Ban Thường Trực của Hội Đồng Bảo An Liên hiệp quốc tỏ ý chưa sẵn sàng ủng hộ một cuộc tấn công của Hoa Kỳ. Âu châu dè dặt nếu không muốn nói tỏ ý chống đối, trong khi ông Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan khuyến cáo thận trọng.

 

Thái độ phản đối của đồng minh do tự ái bị đụng chạm hơn là kết quả của một sự cân nhắc. Nếu tổng thống Bush có thể làm cho cộng đồng thế giới hiểu rằng đối với vấn đề Iraq Hoa Kỳ ở trong trường hợp “giết nếu không để bị giết – to kill or to be killed” và rằng hơn 3000 người dân vô tội đa số là công dân Mỹ đã bị giết buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001 chỉ vì các cơ quan an ninh Hoa Kỳ đã không hành động trước, đinh ninh rằng Hoa Kỳ vẫn là vùng đất an ninh nhất thế giới, trong khi đồng minh Âu châu và phần còn lại của thế giới không ở vào trường hợp đó. Saddam Hussein có hay chưa có vũ khí giết người tập thể người dân Âu châu cũng không phải là đối tương trực tiếp. Mối lo còn xa.

 

Hiện nay Hoa Kỳ đang đứng trước một mâu thuẩn về trihành. Muốn chống khủng bố toàn cầu Hoa Kỳ cần sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và phải xử sự như một thành phần trong cộng đồng thế giới dân chủ, nhưng nếu vậy Hoa Kỳ thấy không đáp ứng được đòi hỏi an ninh của đất nước. Mặt khác tổng thống Bush chưa đủ bản lãnh chính trị để các cố vấn của ông nhìn mà theo, trái lại tập thể cố vấn của tổng thống ai cũng muốn tổng thống sẽ nghe theo ý kiến của mình. Colin Powell chủ trương tìm sự đồng thuận của đồng minh, trong khi nhóm Donald Rumsfeld – Dick Cheney chủ trương đơn phương hành động. Tổng thống Bush vẫn tuyên bố cần hợp tác quốc tế nhưng ông không dứt khoát hành động theo chiều hướng đó. Bên cạnh cuộc chiến tranh chống khủng bố đáng lẽ Hoa Kỳ phải nhúng tay làm trung gian từ đầu trong sự tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan, cũng như giữa Do thái và Palestine thì Bush cứ để cho tình hình trở nên xấu dần trước khi bị buộc phải can thiệp, và khi can thiệp thì theo quyền lợi chính trị đảng phái, thiên vị Do Thái làm mất lòng thế giới A Rập. Điểm nổi bật về thái độ bất nhất của Hoa Kỳ là chương trình viện trợ tái thiết Afghanistan sau khi Taliban bị hạ bệ. Nhu cầu xây dựng một Afghanistan ổn định về cả hai phương diện chính trị và xã hội đòi hỏi cần rộng rãi ủng hộ tài chánh cho Hamid Karzai càng sớm càng tốt để ông ta có khả năng kiểm soát lãnh tụ các sứ quân (warlords) thì Hoa Kỳ đã chi một cách nhỏ giọt (hứa $296 triệu trên tổng số 5 tỉ cần thiết). Kết quả sau 9 tháng chiến thắng, Afghanistan trở lại tình trạng phân hoá quyền hành giữa các các sứ quân. Quyền hành của Hamid Karzai hình như chỉ còn ở Kabul. Cuộc ám sát ông ta (bất thành) đầu tháng 9/2002 cho thấy tình hình Afghanistan không phải là một tình hình ổn định.

 

Trở về chuyện trong nước Mỹ. Cuộc tấn công ngày 11/9/2001 có tác dụng thay đổi tâm lý của người dân Mỹ sâu đậm kể từ cuộc nội chiến 1861-1865. Trong thế kỷ 20 Hoa Kỳ liên hệ đến nhiều cuộc chiến tranh và hơn nữa triệu thanh niên Mỹ đã bỏ mình. Các thanh niên này ra đi và biết mình có thể chết. Nhưng thảm hoạ xẩy đến ngày 11 tháng 9 năm 2001 là vô tiền khoáng hậu. Một buổi sáng đẹp trời hơn 3000 thường dân hôn vợ con đi làm việc trong những cơ sở được xem là đầu não của kinh tế và quốc phòng Hoa Kỳ đã chết một cách tức tưởi không một lời trối trăn với thân nhân. Và nếu không có hành động can đảm của một số hành khách trên chuyến bay 93 của hãng United Airlines có thể trung tâm quyền lực chính trị của Hoa Kỳ là toà Bạch Ốc cũng bị đánh sập và tính mạng của phó tổng thống Dick Cheney đã lâm nguy. Sự việc đó chứng tỏ Hoa Kỳ không còn là vùng đất được ưu đãi và bất khả xâm phạm.

 

Phản ứng đầu tiên của người dân là đứng chung quanh tổng thống, sẵn sàng đáp ứng mọi đòi hỏi, xứng đáng với truyền thống bàng bạc nhưng tha thiết với quê hương của người Mỹ. Nhiều thanh niên tình nguyện nhập ngũ, nhiều người sẵn sàng hiến máu. Tuy nhiên sau một năm nhìn lại, cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 chỉ như một tia chớp lòe sáng lên một ngoại cảnh làm nó trở nên đậm nét rồi trở về khung cảnh cũ. Chỉ là một chấn động sau gần một thập niên kinh tế sung mãn.

 

Chính trị đảng phái không thay đổi bản chất. Sau cuộc tấn công người ta hy vọng rằng dân chúng tin cậy vào chính phủ hơn, nhu cầu an ninh sẽ vượt lên trên mọi ưu tư khác thì thực tế không diễn ra như vậy. Trước cuộc bầu cử toàn thể hạ nghị viện, 1/3 thượng nghị sĩ và 1/3 số thống đốc vào tháng 11 tới các cuộc cãi vã vẫn xoay quanh các vấn đề căn bản như kinh tế thoái trào, hệ thống bảo hiểm sức khỏe của người dân và tình hình tham nhũng cấp cao trong các công ti lớn.

 

Sự trì trệ kinh tế hiện nay do dân chúng mất lòng tin  vào Ken Lay của Enron và Worldcom hơn là bởi bin Laden và hệ thống al Qaeda của ông ta. Đương nhiên chiến tranh chống khủng bố sẽ ảnh hưởng đến tình hình kinh tế về lâu về dài do nhu cầu chi tiêu để đáp ứng với tình hình an ninh nội xứ và các cuộc chiến phòng thủ bên ngoài, nhưng đó là chuyện tương lai.

 

Trở về câu hỏi căn bản: Tình trạng an toàn của lục địa Hoa Kỳ lúc này ra sao?

 

Công cuộc truy lùng nhân sự và phá hủy hệ thống tổ chức Al Qaeda tiến hành hết sức thành công. Nhiều ổ khủng bố bị phá vỡ ở Singapore, Pháp và Ma Rốc làm cho khả năng đánh phá của Al Qaeda suy giảm. Nhưng với con số 15.000 người từng theo học các khóa khủng bố tại Afghanistan dưới thời Taliban hiện nay Hoa Kỳ không biết rõ đang ở đâu (nhưng chắc chắn một số đang sống tại Hoa Kỳ) cho thấy quân khủng bố vẫn còn có khả năng đánh vào cơ sở Hoa Kỳ tại nội địa hay ở nước ngoài. Cuộc bàn cãi sôi nổi giữa toà Bạch Ốc và Quốc hội về đạo luật thành lập Bộ An Ninh Nội Địa (Department of Homeland Security) cũng phản ảnh tình hình an ninh của Hoa Kỳ sau một năm chống khủng bố.  Tổng thống Bush muốn giành quyền tuyển mộ, thải hồi và thuyên chuyển nhân sự giữa các bộ phận thuộc bộ cho chính quyền, biện minh rằng hành pháp cần mềm dẽo để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu an ninh. Các dân biểu Dân Chủ cho rằng  rộng quyền đưa đến lạm quyền đụng chạm đến quyền lợi của nghiệp đoàn và vi phạm dân quyền. Quốc Hội muốn kiểm soát ngân sách của bộ, trong khi tổng thống đòi để riêng 5% ngân sách làm quỹ đen. Trong cuộc cãi vã này chính quyền cũng như quốc hội sau một năm vẫn còn để những khoảng trống căn bản về an ninh nội xứ chưa giải quyết hoặc chưa có môt biện pháp dứt khoát. Những vấn đề quan trọng như an toàn không hành dân sự, biện pháp kiểm soát khách du lịch, sinh viên, biện pháp kiểm soát những kiện hàng hằng ngày nhập vào nước Mỹ, sự bảo vệ các bồn khổng lồ chứa nước uống, các kho dầu dự trữ, các nơi chứa chất phóng xạ, các cơ sở kỹ nghệ hoá chất, cầu cống, hệ thống xa lộ chằng chịt vẫn chưa có một giải pháp dứt khoát.

 

Tuy nhiên vấn đề tế nhị nhất là sự cân bằng giữa nhu cầu an ninh và bảo vệ quyền dân sự của người dân. Trong mấy tuần lễ đầu tiên sau cuộc tấn công tổng thống Bush dùng quyền hành pháp cho phép cơ quan công lực rộng quyền trong việc bắt giữ, điều tra và truy tố. Quốc hội sau đó thông qua luật cho phép truy tìm, nghe lén điện thoại, lấy tài liệu trên máy điện toán của cá nhân một cách dễ dãi hơn. Bộ trưởng Tư Pháp John Ashcroft cho phép cơ quan FBI theo dõi các mạch internet, đền thờ Hồi giáo, các cuộc tập họp đông đảo ngoài trời nếu có nhu cầu an ninh. Một số biện pháp dân chúng đồng ý. Nhưng Bộ Tư Pháp đã len quá sâu vào đời tư của người dân khi định dùng nhân viên bưu điện, nhân viên điện nước và bất cứ nhân viên chính phủ nào có cơ hội thăm viếng tư gia phải báo cáo mọi bất thường trông thấy. Toà án đã can thiệp chận đứng hành động bắt đầu lạm quyền của hành pháp. Người dân ý thức nhu cầu an ninh và sự canh chừng cư dân gốc A Rập và Hồi giáo, nhưng họ cũng đủ ý thức rằng xâm phạm vào đời tư của người lương thiện là điều cần tránh. Năm 1941 sau khi Nhật đánh Trân Châu Cảng giết 5000 thủy quân Mỹ, dân chúng ủng hộ biện pháp giam giữ những người gốc Nhật kể cả công dân Hoa Kỳ trong các trại tập trung. Lần này quần chúng Hoa Kỳ không đồng ý chính quyền áp dụng biện pháp phân biệt đối xử với ngưòi A Rập và Hồi giáo công dân hay không công dân.

 

Điều quan trọng nhất đối với dân chúng Hoa Kỳ sau một năm thử thách là chịu đựng và chấp nhận trả giá chiến tranh trong một thời gian dài. Chiến tranh đánh Iraq là điều khó tránh nhìn cả hai mặt thực tế an ninh cho nhân dân Mỹ và an toàn chính trị cho tổng thống Bush. Một chút do dự để nếu Saddam Hussein ra tay trước, sinh mệnh chính trị của tổng thống Bush xem như chấm dứt. Đó là lý do tổng thống Bush xem sự ưng thuận vào giờ thứ 25 của Iraq (ngày 16/9/2002) để cho phái đoàn thanh tra vũ khí Liên hiệp quốc đến Iraq chỉ là một trò bịp của Saddam Hussein để mua thời gian.

 

Nhưng đánh cũng không có gì bảo đảm tương lai chính trị của Bush. Khi Hoa Kỳ ra quân chiến thắng là điều cầm chắc trong tay, và bằng cách này hay cách khác Saddam Hussein không thể tồn tại (ít nhất là sự hiện diện của ông ta ở Baghdad). Trận đánh này sẽ thay đổi khung cảnh chính trị thế giới nhiều hơn trận đánh tiêu diệt Taliban. Bạn và thù sẽ được xác định rõ hơn và Hoa Kỳ có nhiều lựa chọn hơn. Nhưng đó chỉ là thắng một trận đánh. Để  thắng trận giặc chống khủng bố Hoa Kỳ cần có sự lựa chọn đúng.

 

Điều chỉnh chính sách đối ngoại là ưu tiên một. Hành động cần đi đôi với chính sách. Xích lại gần hơn với các đồng minh, có giải pháp công bình trong cuộc tranh chấp Do thái và Palestine, đo lường đúng mức khả năng của các địch thủ tương lai, chính yếu là Trung quốc, và quan trọng nhất là làm cho mức sống của các quốc gia trên thế giới ít so le hơn.

 

Nói cách khác, Hoa Kỳ không có quyền lơ là mặt trận kinh tế. Nhìn một mặt nào đó cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và thế giới Hồi giáo do khác biệt quan niệm về văn minh, đạo đức và tôn giáo, nhưng có thể bản chất của nó là sự khác biệt giàu và nghèo quá nổi bật giữa các thành phần trong cộng đồng thế giới.

 

Trần Bình Nam

 

Tháng 9 năm 2002

binhnam@aol.com

http://www.vnet.org/tbn

 

 

Tài liệu tham khảo:

1.     One year later: Bush and the World by Michael Hirch, Foreign Affairs September/October 2002

2.     Los Angeles Times, September 13, 2002

3.     Chilly Winds Abroad by Glenn Kessler,  The Washington Post National Weekly Edition,  September 16-21,

4.     Special Report on How America has  changed, The Economist,   September 7-13th, 2002

5.     One Year After by Roger Simon,  U.S.News & World Report, September 16, 2002.

6.     Los Angeles Times, September 17, 2002

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn