NĂM CŨ, NĂM MỚI VÀ

KHÚC QUANH CỦA LỊCH SỬ HOA KỲ

 

Trần Bình Nam

 

Năm Nhâm Ngọ 2002 là năm khủng bố và chống khủng bố và là năm bản lề đưa Hoa Kỳ vào khúc quanh mới. Bản lề đó bắt đầu bằng cuộc tấn công của những người Hồi giáo vào hai cao ốc của Trung tâm Mậu dịch Thế giới tại New York và toà nhà của Bộ Quốc Phòng Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn ngày 11 tháng 9 năm 2001. Thế giới bỗng như lại chia ra làm hai tranh chấp nhau mãnh liệt. Lần này một bên là thế giới Tây Phương với nền văn minh Cơ Đốc, một bên là thế giới Hồi giáo. 

Tại Mỹ tâm lý quần chúng thay đổi một cách căn bản. Kinh tế trở nên khó khăn hơn nhưng dân chúng vẫn ủng hộ chính sách mạnh tay của tổng thống George W. Bush, nghĩa là nếu cần chiến tranh thì chấp nhận chiến tranh.

Do khuynh hướng quan tâm đến an ninh là chính và chấp nhận chiến tranh, dân chúng Hoa Kỳ đã ủng hộ đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tháng 11/2002 vừa qua, kết quả đảng Cộng hòa đã chiếm đa số trong cả hai viện quốc hội, giúp tổng thống Bush có thêm quyền hành. Nắm quốc hội trong tay ông đưa ra một chương trình kinh tế để “tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế” (job & growth). Chương trình này dài hạn, nhưng lại nhắm mục đích ngắn hạn mà chính yếu là giảm thuế. Ông Bush cần kích thích kinh tế trong năm nay và năm 2004 tới để tránh vết xe đổ của thân phụ ông, lót đường cho cuộc tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2 của ông. Năm 1992, George Bush thắng trận Trung đông huy hoàng, Liên bang Xô viết cũng vừa sụp đổ tưởng cầm chắc chiếc ghế tổng thống (1992-96) trong tay nên không làm gì để chấn chỉnh tình trạng kinh tế đang suy thoái và đã thất cử dưới tay ông Bill Clinton.

Cũng nhờ nắm quốc hội tổng thống Bush đã có thế để áp lực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (HĐBA/LHQ) thông qua quyết nghị số 1441 buộc Iraq phải mở cửa lại cho các viên chức thanh sát vũ khí của Liên hiệp quốc.

Trong khi đó Bắc hàn dưới sự lãnh đạo của Kim Chính Nhựt trở chứng tiếp tục lại các chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử và công khai rút ra khỏi thỏa ước cam kết không phổ biến hiểu biết về vũ khí nguyên tử. Bắc Hàn cho chạy lại các nhà máy điện nguyên tử có khả năng sản xuất chất plutonium, là nhiên liệu chế tạo bom nguyên tử.

Tại Âu châu, một số nước Đông âu trước kia thuộc khối Liên xô như Tiệp, Slovakia, Hung, Bảo, Latvia, Estonia và Luthiana được thu nhận vào khối Liên phòng Bắc Đại tây dương (NATO). Liên bang Nga cất dấu bất mãn trong lòng, biết rằng không làm gì được để ngăn cản tiến trình này. Nhưng sự việc này sẽ làm cho Hoa Kỳ gặp khó khăn khi tranh thủ sự ủng hộ của Liên bang Nga đối với chính sách của Hoa Kỳ tại Trung đông.

Về mặt khoa học, việc công ti Clonaid công bố đã sao bản (cloning) được con người là một biến cố khác của nhân loại. Mặc dù cho đến nay, do sự can thiệp của luật pháp Hoa Kỳ, công ti Clonaid không thực hiện được cuộc thử nghiệm khoa học để chứng minh cô bé Eve sinh ngày 26/12/2002 là sao bản của một phụ nữ khác, việc công nhận sao bản người được chỉ là vấn đề thời gian. Và việc này sẽ là một vấn nạn lớn đối với nhân loại bên cạnh những vấn nạn khác là chiến tranh và nghèo đói.

Bước qua năm 2003. Năm 2003 sẽ không phải là một năm của hòa bình. Trước mắt, nếu Saddam Hussein không rời bỏ chính trường bằng một cách nào đó, thí dụ bị đảo chánh hay tự nguyện lưu vong, Hoa Kỳ sẽ không có cách nào khác hơn là khởi binh giải giới Iraq. Với tương quan sức mạnh của đôi bên cuộc chiến có thể kết thúc nhanh chóng. Nhưng vấn đề ổn định Iraq và những cuộc tấn công khủng bố trả đũa của những người Hồi giáo tại nội địa Hoa Kỳ hay các cơ sở liên quan đến quyền lợi của Hoa Kỳ trên khắp thế giới sẽ không phải là một vấn đề nhỏ. Nếu những cuộc khủng bố này gây nhiều thương vong, tạo bất ổn tại các thành phố lớn đến độ đe dọa an ninh của quốc gia thì khó đoán được Hoa Kỳ sẽ hành động như thế nào để tự vệ. Tập trung người Hồi giáo và người gốc A Rập như Hoa Kỳ đã làm đối với người gốc Nhật (trong đó có công dân Hoa Kỳ, sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng và đe dọa đổ bộ lên bờ biển California) sẽ không còn là một điều không thể nghĩ tới – unthinkable - .

Tại Âu châu, Liên hiệp Âu châu dự trù thu nhận thêm 10 nước nữa (gồm các nước Đông âu cũ trừ Romania và Bảo gia lợi và hai tiểu quốc CyprusMalta) sẽ làm thay đổi khung cảnh chính trị Âu châu và thêm một nổi buồn phiền cho Liên bang Nga. Trong năm 2003 vấn đề Thổ Nhĩ Kỳ có được gia nhập Liên hiệp Âu châu hay không cũng sẽ là một vấn đề tạo căng thẳng tại lục địa này.

Ngày 5/2/2003, ông bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Colin Powell  đã trưng nhiều bằng chứng tình báo trước HĐBA/LHQ để chứng minh rằng chẳng những Iraq còn cất dấu vũ khí giết người tập thể mà còn quan hệ với tổ chức Al Qaeda. Và HĐBA/LHQ đang đứng trước một vấn đề nan giải sau khi hai ông Hans Blix, trưởng đoàn thanh tra LHQ và ông Mohamed ElBaradei, giám đốc Nguyên Tử Lực Cuộc Quốc Tế ngày 14/2/2003 báo cáo trước Hội đồng rằng họ không tìm thấy Iraq hiện có vũ khí giết người tập thể, nhưng Iraq cũng không trưng đủ bằng chứng để thuyết phục đoàn thanh tra rằng họ không có những thứ vũ khí đó. HĐBA/LHQ sẽ phải quyết định chấp thuận hay không chấp thuận cho phép Hoa Kỳ dùng vũ lực giải giới Iraq. Cho phép, có nghĩa Liên hiệp quốc không chống nỗi áp lực của Hoa Kỳ. Không cho phép mà Hoa Kỳ vẫn đánh chứng tỏ LHQ không còn có khả năng làm trọng tài các tranh chấp quốc tế. Trong cả hai trường hợp LHQ sẽ mất uy tín, và không thể tiếp tục tồn tại dưới hình thức hiện nay. Một cuộc cải tổ sâu rộng sẽ phải đến sau năm 2003.

Tại Á châu vụ Bắc Hàn chế tạo vũ khí nguyên tử sẽ là chuyện nhỏ, ngay cả trong trường hợp Hoa Kỳ dội bom Bắc Hàn. Vấn đề Trung quốc và Đài Loan cũng vậy. Đài loan sẽ không dại gì tuyên bố độc lập để Trung quốc có cớ xâm lăng. Và cho dù Đài loan muốn tuyên bố độc lập Hoa Kỳ cũng sẽ không để cho Đài loan làm. Chuyện chính của Á châu trong năm 2003 và có thể nói trong thập niên này vẫn sẽ là tình hình chính trị và sức mạnh kinh tế của Trung quốc trong phương trình đối đầu không tránh được giữa Trung quốc và Hoa Kỳ. Cuộc đối đầu này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ sinh hoạt chính trị Á châu, nếu không muốn nói đến toàn bộ tình hình thế giới.

Vào tháng Ba năm nay, khi quốc hội Trung quốc họp, Trung quốc sẽ có thủ tướng mới. Ông Hồ Cẩm Đào đương kim tổng bí thư đảng Cộng sản Trung quốc (CSTQ) có phần chắc được bổ nhiệm làm chủ tịch nước thay Giang Trạch Dân. Cựu Tổng bí thư  họ Giang có thể sẽ còn giữ chức Chủ tịch Quân ủy để có đủ uy thế giúp ban lãnh đạo mới gồm đa số thành phần trẻ trong Thường vụ Bộ chính trị đảng CSTQ nắm vững việc nước. Nội bộ lãnh đạo Trung quốc sẽ không xâu xé nhau giành quyền lãnh đạo chính trị, nhất là đối với Giang Trạch Dân như đa số các quan sát viên tây phương tiên đoán. Nếu Giang Trạch Dân tham quyền cố vị  ông ta đã không trao quyền lãnh đạo đảng cho Hồ Cẩm Đào (một người trẻ hơn cả người đàn em thân tín của ông ta và công lao đối với đảng không nhỏ là Tăng Khánh Hồng) và cũng không đưa thành phần trẻ lên nắm Thường vụ Bộ chính trị. Sự việc nếu ông ta còn nắm chức Chủ tịch Quân  ủy Trung ương có thể chỉ là một cách để giúp cho dàn lãnh đạo mới một cách hữu hiệu. Điều này Đặng Tiểu Bình đã làm đối với Giang Trạch Dân. Giang Trạch Dân sẽ được xem là thiếu trách nhiệm nếu qua đại hội tháng 11 vừa qua, bỏ mọi chính sự ra ngoài, rủ áo ra đi.

Nhưng đại hội 16 của đảng CSTQ không làm cho Trung quốc ổn định dễ dàng. Cái làm cho xã hội Trung quốc căng thẳng là sự chọi nhau giữa hai đối lực: một bên  kinh tế thị trường đòi hỏi một xã hội dân chủ, bên kia là đảng CSTQ muốn nắm mọi quyền hành trong tay. Quyết định cho giới doanh nhân vào đảng trong đại hội 16 sẽ không làm cho sự đối chọi này giảm bớt (như ý của lãnh đạo), trái lại có thể làm cho căng thẳng hơn.

Á châu còn có Ấn Độ với dân số hơn một  tỉ  người. Cuộc tranh chấp giữa những người Ấn Độ giáo đang cầm quyền với thiểu số Hồi giáo có triển vọng tạo rối loạn xã hội trong năm 2003. Sự rối loạn này sẽ được sự tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan (mà trên căn bản do tranh chấp giữa Ấn Độ giáo và Hồi giáo trong vùng Khasmir) làm cho căng hơn. Nếu Pakistan không ngăn cản được du kích Hồi giáo tấn công Ấn Độ qua vùng Khasmir, Ấn Độ sẽ tấn công trả đũa. Nỗi lo sợ của thế giới là cả hai nước đều có vũ khí nguyên tử. Trong hơn 10 năm qua Ấn Độ và Pakistan ba lần xuýt đánh nhau nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ.

Một câu hỏi tự nhiên. Với khoảng trống quyền lực toàn cầu hiện nay Hoa Kỳ có trở thành một đế quốc hay không? Câu trả lời tùy theo định nghĩa thế nào là một đế quốc, và tùy theo chính sách của các nhà lãnh đạo nước Mỹ. Hiện nay Hoa Kỳ là nước có tổng sản lượng bằng 1/3 tổng sản lượng toàn thế giới, và chi phí quốc phòng của Mỹ lớn bằng chi phí quốc phòng của 20 nước cao nhất gộp lại. Do đó ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên thế giới là điều không thể chối cãi. Nhưng Hoa Kỳ có là một đế quốc hay không là một chuyện khác.

Nhìn lại lịch sử Hoa Kỳ, chỉ có một lần (năm 1898) khi Hoa Kỳ đánh bại Tây Ban Nha, Hoa Kỳ mới có thái độ đế quốc bằng cách cai trị một số vùng do quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng từ Puerto Rico đến Phi Luật Tân, còn ngoài ra Hoa Kỳ rất tự chế. Qua chiến tranh lạnh Hoa Kỳ đã mạnh tay can thiệp vào chuyện chính trị nội bộ của một số nước như Iran, Việt Nam, Chí Lợi ... trong chính sách ngăn chận làn sóng cộng sản, nhưng cũng khó nói những sự can thiệp này là một biểu hiện đế quốc. Từ năm 1991 sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất, người ta không thấy Hoa Kỳ muốn khống chế thế giới, ngoại trừ chính sách xiển dương sự toàn cầu hóa thế giới bằng kinh tế và bằng ý niệm dân chủ và nhân quyền. Nhưng sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001 Hoa Kỳ thấy rằng hòa bình, thịnh vượng và dân chủ trên thế giới không thể có bằng nước bọt mà phải là kết quả của đấu tranh. Và Hoa Kỳ biết mình chẳng những không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh này mà còn phải giữ vai trò lãnh đạo. Hoa Kỳ có là một đế quốc hay không tùy theo cung cách lãnh đạo này. 

Tai nạn của phi thuyền con thoi Columbia ngày 1 tháng 2 năm 2003 khi trở về trái đất làm thiệt mạng 7 phi hành gia cho thấy Hoa Kỳ ngoài mặt lãnh đạo chính trị (chống khủng bố, hai chiến trường Trung đông và Á châu, sự cáo chung của Liên hiệp quốc, nới rộng NATO, đồng minh Âu châu nổi loạn ...) Hoa Kỳ còn phải lãnh đạo thế giới về phương diện khoa học và kỹ thuật (trong khi thế giới đang hoang mang trước tai nạn, tổng thống Bush tuyên bố công cuộc thám hiểm không gian tiếp tục và hai hôm sau tăng ngân sách cho Cơ quan Không gian Hoa Kỳ).

Đối với Việt Nam, bức tranh vẫn là mầu xám. Không thấy có dấu hiệu gì đảng CSVN sẽ cởi mở hơn về chính trị trong năm 2003. Trái lại, lợi dụng thế giới đang bận tâm với tình hình thế giới nóng bỏng, và nhất là Hoa Kỳ đang ve vãn Trung quốc, một đồng minh của Việt Nam sẽ không đặt vấn đề nhân quyền với Việt Nam một cách gắt gao như trước nên đảng CSVN sẽ mạnh tay đàn áp các tiếng nói đối lập. Đảng CSVN  cho biết sẽ ban hành luật cấm các cuộc biểu tình dưới mọi hình thức. Một dấu hiệu khác, Tết nguyên đán 2003 năm nay đảng CSVN chỉ giảm án và trả tự do cho gần 200 tù nhân so với Tết năm 2000 đã trả tự do và giảm án cho hàng ngàn tù nhân.

Vấn đề khó khăn của đảng CSVN là thi hành thỏa ước thương mãi song phương ký năm 2001 với Hoa Kỳ và có hiệu lực từ ngày đầu năm 2002. Đảng CSVN muốn lợi dụng tối đa thỏa ước này để tăng mức xuất cảng cá, tôm và áo quần may sẵn sang Hoa Kỳ. Nhưng trái lại Việt Nam phải để cho các công ti Hoa Kỳ làm ăn tại Việt Nam theo luật lệ quốc tế mà kết quả là quyền hành của đảng bị nới lỏng. Đảng CSVN có chấp nhận thực tế này để một cách tiệm tiến dân chủ hóa xứ sở hay sẽ coi thường quyền lợi của đất nước vì quyền lợi của đảng? Câu trả lời không mấy khích lệ nếu dựa vào những gì đảng CSVN đã làm từ khi thống nhất đất nước đến nay.

Vậy tương lai sẽ ra sao? Không thể khoán trắng tương lai của đất nước vào thế hệ trẻ trong bộ máy cầm quyền hiện nay. Lớp lãnh đạo trong tuổi 40 hiện nay sẽ còn bận tâm duy trì đặc quyền đặc lợi họ đang có. Phải có sức ép liên tục của những người đấu tranh cho dân chủ trong và ngoài nước và nhất là tiếng nói mạnh mẽ của nhân dân trong nước lên người cầm quyền bánh xe dân chủ mới có thể chuyển bánh.

Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại đa dạng, khuynh hướng của những chiến sĩ dân chủ trong nước cũng đa dạng nên sức ép được trải rộng trên nhiều mặt. Nhưng sức ép muốn có tác dụng cần tập trung. Thí dụ chung quanh các diện đấu tranh cho nhân quyền, cho tự do tôn giáo, cho quyền tự do ngôn luận, nỗ lực của cộng đồng và của các chiến sĩ dân chủ trong nước cần tập trung vào một điểm. Thí dụ đòi hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp. Điều 4 giao trọn quyền lãnh đạo đất nước cho đảng CSVN. Đòi đảng CSVN bỏ điều 4 HP là khởi đầu sự công nhận đa nguyên chính trị và bầu cử tự do.

Nhân dân trong nước và người Việt ngoài nước dù bằng ngôn ngữ khác nhau đều hướng cuộc đấu tranh của mình vào mục tiêu tối hậu là thay thế chế độ bị áp đặt hiện nay tại Việt Nam bằng một chế độ do dân chọn qua bầu cử tự do. Quá trình bình thường là thành lập quốc hội lập hiến, viết lại Hiến Pháp, và xây dựng một chế độ dân chủ mới. Vấn đề là làm sao khởi đầu tiến trình đó. Áp lực đảng CSVN hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp là giải pháp chính trị (chứ không phải là đánh về mặt luật Hiến Pháp như một số ý kiến vẫn lúng túng với câu hỏi: đòi bỏ điều 4 Hiến Pháp là công nhận bản Hiến Pháp và chế độ hiện tại hay sao?) khởi đầu cho tiến trình dân chủ hóa nói trên.

 

Trần Bình Nam

BinhNam@earthlink.net

Tháng 2 –2003

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn