Hãy thắp sáng ngọn hải đăng Hoa Kỳ

 

Trần Bình Nam

Một nước không thể tồn tại nếu người dân không chịu đổ máu để bảo vệ quốc gia. Vì vậy trong chiến tranh dân chúng thường đoàn kết thành một khối đứng sau lưng quân đội, chấp nhận hy sinh. Nhưng sự hy sinh sẽ được tính toán nếu lý do của chiến tranh thiếu cơ sở vững chắc. Nhất là trong thời đại tin học, một người lính ngả gục ngoài chiến trường đều có khả năng tạo xúc động trong từng quả tim của mỗi người dân.

Sau cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 dân chúng Hoa Kỳ đã đứng sau lưng tổng thống Bush, vị tổng tư lệnh quân đội, và ủng hộ bất cứ đường lối nào của ông, chấp nhận mọi hy sinh để bảo vệ quốc gia. Rất tiếc tổng thống Bush và những phụ tá cực hữu của ông đã dùng vốn liếng chính trị đó để đưa Hoa Kỳ vào một cuộc phiêu lưu tại Trung đông khi đưa đại quân vào Iraq lật đổ Saddam Hussein vào mùa hè năm 2003 nói là để trừ tận gốc căn cứ địa của khủng bố đang đe dọa Hoa Kỳ bằng vũ khí giết người tập thể. Tổng thống Bush cũng nói cuộc chiến Iraq là vết dầu loang đầu tiên để xây dựng dân chủ tại thế giới Hồi giáo để tránh một cuộc thánh chiến giữa Hồi giáo và thế giới Tây phương. Quyết định đơn phương của Hoa Kỳ không được sự đồng thuận của Liên hiệp quốc và của các đồng minh Âu châu nhất là Đức và Pháp, vì không có một bằng chứng chắc chắn gì chứng tỏ Iraq đang chế tạo vũ khí giết người tập thể để đánh phá thế giới Tây phương.

Sau hai năm khói lửa tại Iraq, Saddam Hussein bị bắt, các bước tiến tới dân chủ được tiến hành như thành lập chính quyền Iraq, bầu quốc hội tạm thời, viết và thông qua hiến pháp với cái giá của hơn 2000 binh sĩ Mỹ chết và 15,000 binh sĩ khác bị thương, nhưng không có một dấu hiệu gì dân chủ đang được đâm chồi nở lộc tại Iraq. Chỉ có một sự việc càng ngày càng hiện rõ là: Hoa Kỳ cũng không có sự kiện nào vững chắc về tính đe dọa của chính quyền Saddam Hussein trước khi ra quân. Nhưng những nhà hoạch định chính sách chiến tranh của Hoa Kỳ nghĩ rằng lật đổ xong Saddam Hussein, một nước Iraq dân chủ phồn thịnh và đồng minh với Tây phương sẽ ra đời bảo đảm nguồn dầu hỏa khổng lồ tại Trung đông không lọt vào tay của một thế lực thù định, rồi mọi người sẽ vỗ tay chấp nhận thực tế và kết quả sau cùng là một thế giới ổn định hơn, dân chủ hơn, và một Hoa Kỳ an ninh hơn.

Nhưng người dân Iraq không chấp nhận sự áp đặt và đã huy động sự hận thù truyền kiếp âm ỉ từ mười thế kỷ qua giữa Hồi giáo và Tây phương để chống sự hiện diện của Hoa Kỳ trên đất nước họ, và càng ngày càng gây nhiều tổn thất cho quân đội Hoa Kỳ, những sự tổn thất mà dân chúng Hoa Kỳ càng lúc càng thấy đau vì họ không thấy quyền lợi của quốc gia được phục vụ, và cuộc tranh luận nội bộ về lý do của chiến tranh và làm thế nào để giải quyết trở nên càng lúc càng căng thẳng.

Vào những ngày tháng cuối cùng của năm 2005 khi dân chúng Hoa Kỳ đang  chuẩn bị đón lễ Thanksgiving cổ truyền và lễ Giáng sinh cũng là lúc tại Hoa Kỳ chỉ còn tiếng nói yếu ớt của tổng thống với các phụ tá của ông, và 37% dân ủng hộ ông, còn đại đa số dân chúng Hoa Kỳ đều cảm thấy có một cái gì không ổn trong những tin tức tình báo tổng thống đã dùng để khởi động chiến tranh, và – trong tình hình đó - Hoa Kỳ cần tìm một con đường rút lui an toàn tại Iraq.

Trong cuộc tranh luận về giá trị của tình báo trước khi Hoa Kỳ đưa quân vào Iraq mùa hè năm 2003, ông Lexington, trong một bài viết nhan đề “Pants on Fire” (Lửa cháy tới quần) đăng trên tờ The Economist số ngày Nov. 19th – 25th, 2005 viết rằng:

“Cuộc tranh luận chính trị hiện nay giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ về cuộc chiến Iraq sẽ có những hậu quả chính trị lớn lao cho cả hai bên. Vế phía Bush, chẳng những nó làm cho sự ủng hộ chiến tranh của dân chúng sụt giảm, nó còn làm cho dân chúng nghi ngờ sự ngay thẳng chính trị của ông. Về phía Dân chủ cuộc tranh luận cũng có thể cho thấy đảng Dân chủ là những kẻ cơ hội, chống chiến tranh khi chiến trường gặp khó khăn, và hớ hênh vì đã không đặt vấn đề về các tin tức tình báo một cách đến nơi đến chốn trước khi ủng hộ chiến tranh. Dân chủ cũng có thể bị kết án là thiếu quyết tâm chống khủng bố và thiếu cương quyết trong việc bảo vệ quốc gia.

Ai có lý hơn ai? Tổng thống Bush nói rằng ai nói ông biết Iraq không có vũ khí giết người tập thể trước khi khởi động chiến tranh là ăn nói bừa bãi. Thật ra không ai có bằng chứng tổng thống biết hay không biết, nhưng có thể vì quá lo lắng cho an ninh quốc gia tổng thống đã quyết định chiến tranh. Quyết định đó dù sai lầm vẫn là một sai lầm trong sáng nếu thật sự ông tin rằng Iraq có vũ khí giết người tập thể, và ông không thể ngồi chờ Hoa Kỳ bị đánh một lần nữa sau cú 911. Ngoài ra hơn 100 dân biểu Dân chủ cũng đã bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh.

Nhưng dù tổng thống Bush không có ý khai thác lệch lạc tin tức tình báo, ông cũng đã quá tin hai ông Dick Cheney và Donald Rumsfeld trước khi quyết định. Chiếm Iraq rồi không tìm thấy vũ khí giết người tập thể. Và tuởng rằng dân chúng Iraq sẽ mang hoa ra đường đón quân đội Hoa Kỳ, lính Mỹ chỉ gặp toàn bom xăng. Và một sự nhầm lẫn làm hàng ngàn binh sĩ phải bỏ mình thì người lãnh đạo chính trị phải trả giá.

Hơn nữa các bằng chứng cho thấy trong khi tranh luận nên hay không nên đánh Iraq tổng thống Bush hình như đã có thiên kiến và không nói hết về những tin tức tình báo ông biết. Cho nên những người ủng hộ chiến tranh dễ ăn dễ nói hơn những người chủ trương thận trọng. Bản phúc trình của Ủy ban Tình báo Thượng viện viết rằng tòa Bạch cung đã hơn một lần thuyết  phục cơ quan tình báo CIA tìm cho ra sự quan hệ giữa Saddam Hussein và al Qaeda.

Tổng thống Bush không thành công trong nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng trong cuộc tranh cãi hiện nay. Chỉ còn 37% dân chúng ủng hộ ông. Trong mùa tranh cử tổng thống năm 2004 đa số người Mỹ tin rằng cuộc chiến tại Iraq là một phần của cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu như lập trường của ông Bush. Bây giờ đa số người Mỹ không tin điều đó nữa.

Quan trọng hơn nữa là đảng viên Cộng hòa cũng cảm thấy như vậy. Thượng nghị sĩ John McCain (Cộng hòa, Arizona) nói rằng “có một cái gì đó không ổn trong cuộc chiến Iraq”. Nhưng nội bộ họ lại bất đồng ý kiến với nhau về cách giải quyết. Ông John McCain muốn tăng thêm 10,000 quân, trong khi Thượng nghị sĩ Bill Frist, trưởng khối đa số và một Thượng nghị sĩ Cộng hòa có uy tín khác là ông John Warner thuyết phục Thượng viện thông qua tu chính yêu cầu Hoa Kỳ làm những gì cần thiết để quân đội Iraq nhận lãnh trách nhiệm trong năm tới và Hoa Kỳ cần có một sách lược chấm dứt chiến tranh.” (79 phiếu thuận, 19 phiếu chống)

Lexington kết thúc bài viết bằng cách đưa ra nhận định của giáo sư John Kenneth White thuộc đại học Catholic University of America rằng: “Tổng thống nào mà chẳng có lúc gặp khó khăn. Quan trọng là cách giải quyết, nói cách khác là khả năng đổi đề tài. Tổng thống Ronald Reagan và Bill Clinton biết cách đổi đề tài, trong khi những tổng thống như Lyndon Johnson, Gerald Ford, Jimmy Carter và George Bush cha cứ lúng túng với đề tài cũ.

Cho đến giờ này chưa thấy tổng thống Bush (con) biết đổi đề tài. Mỗi lần có ai lên tiếng đặt vấn đề ông lại lên bục biện minh và giảng giải lý do ông đánh Iraq. Và càng biện minh tỉ số dân chúng ủng hộ ông càng xuống thấp hơn.”

Vậy phải làm sao? Không có vấn đề rút quân tức khắc. Hạ nghị viện Hoa Kỳ khi được hỏi ý kiến về vần đề rút quân tức khắc hôm Thứ Sáu 18 tháng 11 đã bỏ phiếu 403 trên 3 chống đề nghị này. Trước đó mấy hôm tại Thượng viện khi được hỏi ai đồng ý vạch một chương trình rút quân dần có ngày giờ nhất định chỉ có 40 phiếu thuận, 58 phiếu chống. Về phía quần chúng, thăm dò của CNN/USA Today/Gallup trong tuần lễ từ 14 đến 18 tháng 11 cho thấy trong 100 người Mỹ chỉ có 19 người đồng ý việc rút quân tức khắc. Quốc hội và quần chúng dù biết Iraq là một sai lầm chiến lược cũng ý thức rằng bỏ chạy lúc này lại càng sai lầm hơn nữa và sẽ làm cho an ninh của Hoa Kỳ bị đe dọa hơn.

Cách tốt nhất để bảo vệ quốc gia là hai đảng cần chấm dứt cuộc tranh luận đúng sai, ngồi lại để cùng tìm một giải pháp ổn thỏa để rút quân dần. Nếu hai đảng Cộng Hòa và Dân chủ bày tỏ được sự quyết tâm này một giải pháp thương thuyết giữa những người Iraq thân và chống Hoa Kỳ có thể thành hình và Hoa Kỳ có thể rút lui một cách an toàn. Khi người Mỹ chứng tỏ đoàn kết và quyết tâm không một lực lượng nào trên thế giới có đủ can đảm thách thức Hoa Kỳ. Nước Mỹ chỉ yếu và thua trận khi đảng phái và quần chúng chia rẽ mà thôi.

Lúc này hơn lúc nào hết các đảng phái chính trị và dân chúng Hoa Kỳ cần đoàn kết với nhau trên sự nhận chân rằng đã có sự sai lầm, nhưng Hoa Kỳ chỉ có thể điều chỉnh sự sai lầm này trong danh dự, chứ không thể điều chỉnh bằng sự rút quân bằng mọi giá.   

Có thể trước khi giải quyết được vấn đề Iraq trong danh dự và an toàn quân đội Hoa Kỳ còn phải đổ máu thêm nữa, nhưng đó là những giọt máu cần thiết cho quê hương và đất nước. Tất cả những chiến binh Hoa Kỳ đã và sẽ nằm xuống sẽ không ân hận đã hy sinh cho tổ quốc vì nhờ họ mà Hoa Kỳ giữ được tư thế siêu cường. Và quan trọng hơn hết là tiếng nói của Hoa Kỳ vẫn còn là tiếng nói của lương tri nhân loại.

Trong suốt hậu bán thế kỷ 20 trên thế giới người ta có thể yêu hay ghét Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ vẫn là ngọn hải đăng ngời sáng về tự do, dân chủ và nhân quyền. Khi một lãnh tụ của Hoa Kỳ bất cứ nơi đâu nói đến dân chủ và nhân quyền người ta - bạn cũng như thù - tin đó là những lời nói phát xuất từ một lý tưởng đích thực và đáng tin. Qua cuộc chiến Iraq, với những hình ảnh tù nhân tại Abu Ghraib, với hệ thống nhà tù bí mật do cơ quan tình báo CIA quản lý tại một số nước Đông âu, với bom lửa tại Fallujah, thế giới bỗng trở nên nghi ngờ sự thành thật của Hoa Kỳ về những quan niệm trên, và đó là tổn thất và mất mát lớn nhất không những cho Hoa Kỳ mà cho cả nhân loại.

Hoa Kỳ cần giải quyết cuộc chiến Iraq trong tinh thần tái lập lại ngọn hải đăng “dân chủ, nhân quyền” từng ngời sáng trên đỉnh đồi của điện Capitol.

Trần Bình Nam

Nov. 23, 2005

BinhNam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

 

 


Trần Bình Nam

http://www.tranbinhnam.com