Những Vấn Đề Trước Mắt của Hoa Kỳ

Thế Giới Sau Cuộc Khủng Bố Ngày 11 Tháng  9 Năm 2001

 

Trần Bình Nam

Sáng 12 tháng 9 năm 2001 lá cờ Hoa Kỳ "sao sọc" treo nửa cột bay trước mỗi nhà trên toàn nước Mỹ. Cả nước để tang. Một cái tang lớn. Ngày  hôm trước (11/9/01) một bọn khủng bố đã cưỡng đoạt nhiều máy bay dân sự, tự lái cho đâm vào đánh sập hai tòa nhà chọc trời của Trung tâm Mậu dịch Thế giới (World Trade Center-WTC) ở New York, và một góc của Ngũ Giác Đài, bộ quốc phòng Hoa Kỳ giết hơn 5000 người. Trong một khoảng thời gian được tính toán kỹ bọn khủng bố cướp 4 chiếc máy bay. Hai của hãng American Airlines (số 11, Boeing 767 từ Boston đi Los Angeles; số 77, Boeing 757 từ Hoa Thịnh Đốn đi Los Angeles) hai của hãng United Airlines (số 175, Boeing 767 từ Boston đi Los Angeles; số 93, Boeing 757 từ Newark đi San Francisco). American và United là hai hãng hàng không dân sự lớn nhất của Hoa Kỳ. Chuyến bay số 11 đâm vào lầu phía bắc của Trung tâm Mậu dịch Thế giới lúc 8:45AM, chuyến bay số 175 đâm vào lầu phía nam lúc 9:08AM. Xăng bốc lửa, và sau một giờ cháy làm sụp các cột chống bằng thép, phần trên của hai tòa nhà lần lượt sụp xuống và sức nặng làm sụp sát đất toàn bộ hai tòa nhà. Trong khi đó chuyến bay 77 đâm vào bộ quốc phòng, lửa bốc cháy và 1/5 Bộ Quốc phòng sụp đổ. Kẻ gian cướp chuyến bay số 93 không thực hiện được dã tâm đâm vào tòa Bạch Ốc.  Một số hành khách biết tin qua điện thoại cầm tay đã tấn công các tên khủng bố và làm chiếc Boeing 757 của phi vụ 93 rớt tại quận Somerset gần Pittsburgh, một thành phố lớn mạn cực tây bang Pennsylvania.

Lệnh tổng thống ban ra, ngưng tất cả các chuyến bay trên toàn quốc. Biên giới đóng kín, tàu lửa và các hãng vận chuyển dân sự đường xa như hãng xe buýt Greyhound ngưng chạy. Các chuyến bay nước ngoài đang bay đến Hoa Kỳ đổi đường bay tạm đáp qua Canada. Các biện pháp chuẩn bị chiến tranh được ban hành. Quân đội được lệnh ở tư thế sẵn sàng ứng chiến. Tổng thống đang công cán tại bang Florida được di chuyển đến một trung tâm chỉ huy thời chiến ở bang Nebraska. Nhân sự lãnh đạo chính phủ và quốc hội được di chuyển đến một nơi an toàn.

Chiều tối hôm đó sau khi quân đội nắm vững tình hình tại thủ đô và vùng trời Hoa Thịnh Đốn được bảo vệ, tổng thống Bush trở về tòa Bạch Ốc. Trong một phát biểu ngắn tổng thống chia buồn với nạn nhân và gia đình, khẳng định nước Mỹ sẽ không nao núng trước hành động khủng bố và sẽ làm những gì cần thiết để bảo vệ tự do. Tổng thống bảo đảm với quốc dân bộ máy nhà nước đang vận hành bình thường và sẽ giải quyết các vấn đề trước mắt một cách tốt đẹp. Tổng thống hứa với nhân dân Hoa Kỳ kẻ ác, và những ai, cá nhân hay quốc gia tiếp tay với kẻ ác sẽ bị trừng trị. Và tổng thống Bush đã long trọng nhắc lại lời cam kết này trong bài diễn văn đọc trước lưỡng viện Quốc hội ngày 20 tháng 9.

Các dân biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ không phân biệt Dân chủ hay Cộng hòa, sau một ngày tạm ngưng làm việc, chiều hôm đó họp nhau dưới mái nhà quốc hội tay trong tay hát bài "God Bless America" (Ơn trên phù hộ Mỹ quốc) thề đứng sau lưng tổng thống, bảo vệ tổ quốc.

Vấn đề trước mắt của quốc gia là: Làm gì? Tìm thủ phạm và trừng phạt. Điều này đơn giản. Nếu Hoa kỳ không có khả năng tiên đoán các biến chuyển lớn trên thế giới và phòng ngừa các cuộc khủng bố, tình báo Hoa kỳ có khả năng điều tra để tìm ra hung thủ và có sức mạnh trừng phạt những tên khủng bố. Trong nước tổng thống Bush được sự ủng hộ của quốc hội và toàn dân. Ngoài nước hầu hết các nước trên thế giới kể cả Liên bang Nga và Trung quốc và một số nước Hồi giáo như Soudan, Jordan ... đều lên tiếng kết án khủng bố. Thượng nghị sĩ John W. Warner (CH-Virginia) một lãnh tụ quốc hội nhiều uy tín và cựu bộ trưởng ngoại giao Henry Kissinger so sánh cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 với vụ Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng không báo trước năm 1941 buộc Hoa Kỳ nhảy vào Thế chiến 2 thì điều này có nghĩa Hoa Kỳ không có con đường nào khác hơn là chiến đấu để sống còn. Ngày 7 tháng 10 sau gần một tháng chuẩn bị quân sự và ngoại vận, Không quân Hoa kỳ khởi sự oanh tạc Afghanistan, quốc gia chứa chấp Osama Bin Laden, người chủ mưu cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 để chuẩn bị chiến trường cho các đơn vị biệt kích vào truy kích, tìm kiếm và hủy diệt Bin Laden và bộ máy khủng bố của ông ta.

Tổng thống W. Bush nói đây là trận chiến tranh đầu thế kỷ thứ 21 của Hoa kỳ. Và các nhà bình luận nhìn thấy như   "Trận Chiến Tranh Lạnh Thứ 2." ("War on Terror Will Test U.S. in Terrible Ways" - Los Angeles Times ngày 17/9/2001, by Ronald Brownstein). Trong trận chiến này nước Mỹ sẽ là tiền tuyến, không như trong hai trận đại chiến thế giới 1914-18 và 1939-45 nước Mỹ là hậu phương lớn và an toàn và Hoa Kỳ phải chuẩn bị trả giá đắt cho trận chiến này.

Theo nhận xét của tờ The Economist (The Battle Ahead, 22nd - 28th Oct. 2001) Hoa Kỳ cần nắm vững 4 điều căn bản:

Thứ nhất là hạ quyết tâm. Bọn khủng bố nghĩ rằng một quốc gia dân chủ thường thiếu quyết tâm, sự ủng hộ của nhân dân Hoa kỳ đối với quân đội sẽ suy mòn khi họ thấy tổn thất nhân mạng, và đồng minh Âu châu của Hoa Kỳ (ngoài Anh quốc) sẽ nói ủng hộ bằng mồm nhiều hơn bằng hành động. Nhưng khi hằng ngàn người Mỹ chết và chiến tranh đã đến đất Mỹ, nhân dân Mỹ sẽ có quyết tâm. Đồng minh Âu châu cũng đủ sáng suốt để thấy rằng lúc này không chiến đấu bên cạnh người Mỹ là thiển cận. Đây là một cuộc chiến đấu không phải vì quyền lợi riêng của Hoa kỳ mà là cuộc chiến đấu bảo vệ nền văn minh Tây Phương.

Thứ hai là biết chọn ưu tiên. Tổng thống Bush nói rằng những tên khủng bố và những nước giúp đỡ và nuôi dưỡng chúng đều là kẻ thù. Nhưng mặt trận càng rộng càng khó thành công. Hoa Kỳ phải chọn lựa ưu tiên, đánh Osama bin Laden và tổ chức của ông ta trước, đồng thời củng cố liên minh quốc tế trước khi mở rộng mặt trận.

Thứ ba là kiên nhẫn. Cuộc đấu tranh này không dễ dàng kết thúc, và không phải chỉ sức mạnh quân sự là đủ. Hoa Kỳ cần quân đội của đồng minh trong khối  NATO, nhưng cũng cần sự hợp tác dưới nhiều hình thức khác của các nước Hồi giáo chung quanh Afghanistan và những nước xưa nay vẫn giúp đỡ bọn khủng bố, và những nước bọn khủng bố đã dùng để tổ chức kinh tài và tiếp vận. Cần cắt nguồn tiếp vận của bọn khủng bố, ưu tiên là phong tỏa tài sản, chương mục của chúng ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Sau cùng và quan trọng hơn cả là tình báo. Mặt trận này là một phần của mặt trận ngoại giao. Đối với đồng minh tại chỗ,  Hoa kỳ cần điệp vụ và tin tức. Để đánh những tên khủng bố đang ẩn núp tại Afghanistan hay ở một nước nào khác các đơn vị Hoa Kỳ cần biết đích xác chúng đang ở đâu và đến đó một cách nhanh chóng. Như vậy các đơn vị Mỹ cần được quốc gia bạn thông tin và cung cấp căn cứ xuất phát.

Các trận đánh đã khởi đầu, nhưng sau khi đánh nước Mỹ có được an toàn hơn trước không? Câu hỏi này không dễ trả lời như câu hỏi trên. Sau khi Liên xô sụp đổ thế giới nhị cực trở thành nhất cực, Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất còn lại, các  vấn đề của thế giới hình như trở nên phức tạp hơn. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1945-1989) thế giới chia thành hai khối rõ rệt có vũ khí nguyên tử có khả năng tiêu diệt lẫn nhau. Một nhóm khủng bố chống Hoa Kỳ chỉ có thể xây dựng cơ sở, huấn luyện nhân sự tại vùng đất trong vùng ảnh hưởng của Liên xô, và Liên xô không khi nào cho phéùp những tay khủng bố hành động vì sợ xẩy ra thế giới chiến tranh. Liên bang Xôâ viết muốn chiếm cả thế giới còn nguyên vẹn. Bây giờ thì khác. Ngoài vùng đất ảnh hưởng của Hoa Kỳ và đồng minh  còn cả chục nước không có cảm tình với Hoa Kỳ. Các quốc gia này trực tiếp hay gián tiếp dung dưỡng những nhóm chống Mỹ. Nhóm khủng bố này muốn đánh bạt  ảnh hưởng của Hoa Kỳ ít nhất ở Trung Đông và một số vùng ở Á và Phi Châu để xây dựng thế giới Hồi giáo quá khích riêng biệt của riêng họ. Điều khác biệt với cuộc chiến tranh lạnh trước đây với Liên bang Xô viết là bọn khủng bố Hồi giáo quá khích chủ trương nếu chiếm được cả thế giới nguyên vẹn thì tốt, ngược lại nếu họ có bị hủy diệt cùng một lúc với đối thủ thì cũng là một chiến thắng. Và đó là sự đe dọa lớn lao của Hoa Kỳ và của thế giới văn minh. Một sự đe dọa được chuyển đạt bằng "sự im lặng".

Ông Brownstein viết:

"Không ai bằng những người sống trong vùng nam Manhattan, thành phố New York trong ngày Thứ Ba 11 tháng 9 vừa qua. Đang chú tâm vào công việc họ nghe tiếng động xé tai của một chiếc máy bay phản lực chở hành khách lao mình vào tòa lầu cao ngất của Trung Tâm Mậu Dịch Thế giới. Chưa kịp hoàn hồn, lại một tiếng động xé tai khác, tiếng nổ, lửa cháy rực trời, thép và bê tông mềm nhũn sụp xuống giữa tiếng gào thét của hằng ngàn nạn nhân vô tội.

"Nhưng đối với đa số dân chúng Hoa Kỳ sống ở ngoài thành phố New York cái cảm giác rợn người của cuộc khủng bố là "sự  im lặng." Những tên khủng bố cướp 4 chiếc máy bay trong cùng một buổi sáng không đưa ra một đòi hỏi gì, và không công bố một thông điệp chính trị nào. Chúng không nhân danh một lý tưởng gì. Và cũng không ai nhận là tác giả của cuộc khủng bố  tiền khoáng hậu trên. Hình như đối với bọn khủng bố cứ giết thật nhiều người Mỹ và gây tổn thất lớn đến quyền lợi của Mỹ chính nó đã là một thông điệp đầy đủ"

Chúng ta không ai muốn nghĩ đến những điều nằm ngoài sự suy nghĩ bình thường (think to unthinkable), nhưng ai dám tiên đoán những gì sẽ xẩy ra hay không thể xảy ra? Hai trận thế giới đại chiến thứ 1 và thứ 2 khởi đầu bằng những ngòi lửa nhỏ. Không ai biết tổ chức khủng bố Al Qaeda của Bin Laden có thủ đắt vũ khí nguyên tử không, và nếu có bọn họ đã đưa lén vào Hoa kỳ chưa? Và kho vũ khí nguyên tử của Pakistan thì sao nếu chính quyền của tướng Pervez Musharraf sụp đổ trước phản ứng của dân chúng đối  với chính sách ủng hộ cuộc tấn công Afghanistan của Hoa Kỳ? Nếu bọn khủng bố dùng vũ khí nguyên tử đánh một thành phố lớn của Hoa Kỳ ai dám bảo đảm Hoa Kỳ không dùng vũ khí nguyên tử để diệt đối thủ một lần và trọn vẹn. Khi đó không ai biết ai (Nga, Trung quốc, Saudi Arabia, Pakistan ... ) sẽ ở vào phe nào.

Truớc mắt Hoa Kỳ có thể bảo vệ an ninh nội địa nếu áp dụng những biện pháp cứng rắn.Thí dụ tuyệt đối không cho người gốc A Rập vào nước (Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã chỉ thị cho các tòa đại sứ Nhật  tạm ngưng cấp chiếu khán vào Nhật cho những người gốc A Rập). Kiểm tra và theo dõi những ai có gốc A Rập dù là công dân Hoa kỳ. Xem chất nổ và súng là đồ quốc cấm. Cảnh sát có thể chận hỏi giấy tờ bất cứ ai không cần lý do. Máy bay dân sự trang bị nịt ghế không thể tự mở khi đang bay. Hành khách đi riêng với hành lý. Kiểm tra an ninh mọi nhân viên kể cả phi hành đoàn ngay trên máy bay trước khi cất cánh. Cho nhân viên an ninh mang vũ khí tháp tùng trên mọi chuyến bay. Nói tóm lại có cả trăm biện pháp có thể nghĩ ra để bảo đảm an ninh nhưng thực tế không thể áp dụng được trong một nước dân chủ có hiến pháp, tôn trọng nhân quyền, kinh tế thị trường và tự do, phóng khoáng là nếp sống. Trước nhu cầu ngăn chận khủng bố tại nội địa Hoa Kỳ sẽ ban hành luật chống khủng bố, nhưng cũng chỉ là những biện pháp vá víu.

Nhưng một vấn đề cần được đặt ra. Hoa Kỳ có thể làm gì ngoài sự tìm diệt hệ thống khủng bố của khuynh hướng Hồi giáo quá khích trên thế giới? Có cần truy nguyên ra nguyên nhân của khủng bố và giải quyết tận gốc không? Đây là một vấn đề phức tạp không ai thấy được giải pháp trước mắt. Theo Samuel Huntington trong cuốn "Clash of Civilizations" cuộc khủng bố bắt nguồn từ sự xung khắc giữa khối  Hồi giáo và nền văn minh Tây phương do Hoa Kỳ đại diện. Và sự tranh chấp do khác biệt văn minh không thể giải quyết hơn thua bằng sức mạnh, bằng thương thuyết, hay bằng chiếc lưỡi của những nhà du thuyết. Nói cách khác khả năng giải quyết các hành động khủng bố do "va chạm của hai nền văn minh khác biệt" rất là giới hạn. Những lý do Osama bin Laden đưa ra để biện minh thái độ hận thù Hoa Ky ụnhư cuộc tấn công Iraq của Hoa Kỳ năm 1991, sự  đóng quân của Hoa Kỳ tại Saudi Arabia, thánh địa của Hồi giáo, và chính sách thiên Do Thái của Hoa kỳ trong cuộc chiến tranh giữa Do Thái và người Palestine có thể chỉ là những giọt nước làm đầy ly nước.

Dù sao một vấn đề Hoa Kỳ cần nghĩ tới là giúp giải quyết cuộc tranh chấp giữa người Palestine và Do Thái trên một căn bản công bình hơn. Nếu người Do Thái có quyền nghĩ đến thảm họa holocaust và lo sợ cho tương lai thì người Palestine cũng có quyền lập quốc. Người Palestine xứng đáng có một quốc gia riêng của họ. Hoa Kỳ cần hiểu nhu cầu này của cả hai phía.

Sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001 ông Sharon, thủ tướng Do Thái kêu gọi các quốc gia văn minh hãy cùng nhau hoạch định chương trình chung dẹp khủng bố toàn cầu (có nghĩa là thánh chiến diệt Hồi giáo). Ông Sharon công khai so sánh Yasser Arafat với tay trùm khủng bố Osama Bin Laden, hàm ý đây là lúc nên tận diệt chính quyền tạm thời của người Palestine do Arafat cầm đầu. Hoa kỳ không rơi vào bẫy của Do Thái. Sau cuộc khủng bố người ta ghi nhận Hoa Kỳ có thái độ cứng rắn hơn với Do Thái. Tổng thống Bush nhắc lại một thỏa thuận trước đây giữa Do Thái và Palestine ông chưa bao giờ nhắc tới là Hoa Kỳ công nhận một quốc gia Palestine.

Phản ứng trong nước và của thế giới cũng như của một vài cá nhân tên tuổi đối với cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 và sự đánh trả của Hoa Kỳ đa diện.

Sự so sánh cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 với trận tấn công Trân Châu Cảng là một so sánh thiếu cân xứng. Trận tấn công Trân Châu Cảng khởi đầu một trận chiến tranh qui ước chống lại một kẻ thù minh danh và hiện hữu quân đội Hoa Kỳ có thể đón đánh trên không, trên biển, trong rừng rậm hay trên đất nhà của địch. Trận chiến tranh chống khủng bố không tháp canh, không trại lính, không thành phố, không thủ đô để biết san bằng đi là giải quyết được chiến tranh.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một thiền   uy tín quốc tế đã phản ứng bằng cách kêu gọi Hoa Kỳ không nên dùng bạo lực để trả lời bạo lực. Thiền sư  Nhất Hạnh trích một bài thơ bằng tiếng Anh ông nói ông làm cách đây nhiều thậo niên khi ông được tin thành phố Bến Tre với 300 ngàn dân bị Hoa Kỳ bỏ bom hủy diệt vì có một số du kích trong thành phố bắn vào máy bay Mỹ trong thời kỳ chiến tranh. Đại ý bài thơ nói khi được tin ông úp tay lên mặt, buồn,  cầu nguyện sự tha thứ. Thiền sư hàm ý sự việc Hoa Kỳ bỏ bom hủy diệt một thành phố 300,000 dân là một tội ác và tội ác nào cũng cần được  tha thứ. Bây giờ trước cuộc khủng bố ngày 9 tháng11 giết hơn 5000 người, ThiềnsSư Nhất Hạnh cũng chỉ muốn Hoa Kỳ tha thứ như từng được tha thứ, đừng lấy oán báo oán, oán thù chồng chất. Đồng bào Việt Nam không ai thắc mắc việc Thiền   ý khuyên răn Hoa Kỳ đừng đánh trả vì mọi tôn giáo đều chủ trương không nên lấy oán báo oán. Điều dư luận thắc mắc là Thiền sư Nhất Hạnh đã dùng những thông tin  sai lạc làm căn bản cho lời cầu nguyện của mình và qua đó xúc phạm sự đau khổ của dân tộc Mỹ khi ám chỉ Hoa Kỳ đáng nhận được những gì đã nhận trong ngày 11 tháng 9.

Sau trận Tết Mậu Thân (1968) báo chí Hoa Kỳ bắt đầu chống chiến tranh Việt Nam và họ sẵn sàng chuyển đi các bản tin sai lạc với mục đích thuyết phục chính phủ Hoa Kỳ rút ra khỏi chiến tranh Việt Nam. Bộ máy tuyên truyền của Hà Nội khai thác cơ hội này đã cho phổ biến nhiều hình ảnh của chiến tranh Việt Nam bất lợi cho Hoa Kỳ. Một trong những bức hình đó là một tấm hình một góc thành phố Bến Tre bị bỏ bom đổ nát khi Hoa kỳ oanh tạc yểm trợ cho các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm Bến Tre. Một đại diện của phái đoàn thương thuyết của Hà Nội tại Paris khi trả lời một câu hỏi của một nhà báo rằng phải chăng qua trận Mậu Thân cộng sản không kiểm soát được một thành phố nào tại miền Nam đã trưng ra bức hình nói trên để chứng minh họ đã kiểm soát Bến Tre vì nếu họ không kiểm soát Bến Tre vô lẽ Hoa Kỳ lại ném bom hủy diệt một thành phố của đồng minh. Đó chỉ là thuật ngữ, nhưng truyền thông quốc tế và Hoa Kỳ nắm lấy cơ hội loan tải rộng rãi lời bình luận của đại diện phái đoàn Bắc Việt và bức hình trở thành một đối tượng truyền thông với sự  thật tưởng tượng là Hoa Kỳ đã phải tiêu hủy thành phố Bến Tre 300.000 dân để chiếm lại nó.

Vào thời gian đó Thiền sư Thích Nhất Hạnh xa đất nước đã lâu. Thiền sư vốn chủ trương chống sự can thiệp của Hoa Kỳ, nên Thiền Sư đã tin vào "sự thật giả dối" của tấm hình và những lời lẽ thêu dệt chung quanh, cho nên nếu Thiền Sư có làm bài thơ buồn và kêu gọi tha thứ cũng không có gì đáng nói.

Điều đáng nói là từ đó đến nay đã 33 năm mà Thiền sư vẫn chưa thấy sự thật ở đâu. Đó là điều đáng ngạc nhiên, đáng buồn đáng tủi cho những người cùng dòng máu Việt với Thiền   cho những đệ tử của ngài.

Rất may còn có người thấy được sự việc và đưa ra một nhận xét có ý nghĩa. Bà Arroyo, tổng thống Phi Luật Tân nói: "cuộc khủng bố làm cho thế giới của chúng ta nhỏ dần" (Nguyên văn lời bà Arroyo: This world is diminishing). Bà Arroyo nói đúng. Kỹ thuật truyền thông làm thế giới thu nhỏ lại, nhưng văn minh không làm cho trí con người lớn ra. Con người cứ nhỏ dần theo đà tiến bộ của văn minh vật chất. Các cuộc tranh chấp trên thế giới làm con người càng xa tính người và càng gần thú vật. Những tay khủng bố cướp máy bay trên đó có đàn bà, con nít vô tội đâm sầm vào một tòa nhà có hàng chục ngàn người đang làm việc để cùng chết dù nhân danh một thứ lý tưởng gì cũng là một hành động súc vật.

Con người mất hướng, thế giới nhỏ dần. Chỉ có lẽ phải và biết tôn trọng lẽ phải trên căn bản công bình, vì người và vì mình thế giới chúng ta mới tồn tại với kích thước của nó và thế giới chúng ta đang sống mới được an toàn hơn.

Kết thúc bài diễn văn ngắn chiều ngày 11 tháng 9 đọc tại tòa Bạch Ốc tổng thống George W. Bush nói: "Không ai trong chúng ta quên được ngày hôm nay, tuy nhiên chúng ta vẫn tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ tự do, bảo vệ những giá trị và lẽ phải trên thế giới." (nguyên văn: None of us will ever forget this day, yet we go forward to defend freedom and all that is good and just in our world.)

Đó là điều chúng ta mong ước Hoa Kỳ sẽ thực hiện trong cốt lõi tinh thần của chữ nghĩa (Oct. 2001)

  

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn