THẾ GIỚI HAI TUẦN QUA

(April 22, 2005 – May 05, 2005)

 

         Trao đổi về chuyện Thế Giới Hai Tuần Qua giữa phóng viên Quang Dũng (QD) của đài TN/PHVN và ông Trần Bình Nam.

            Nội dung này được phát sóng ngày Thứ Năm, 05 tháng 5, 2005 vào lúc 10:10PM giờ Hoa Thịnh Đốn trên làn sóng đặc biệt của đài Việt Nam Hải Ngoại (VNHN), và có thể nghe lại sau đó qua Web site: http://www.phvn.org

 Quang Dũng (QD):  Xin chào ông Trần Bình Nam. Trong chương trình hôm nay có vấn đề gì trên thế giới ông muốn trình bày với thính giả đài Tiếng Nói Phục Hưng Việt Nam (TN/PHVN) không?

 

Trần Bình Nam (TBN): Xin cám ơn QD và kính chào quý thính giả của TN/PHVN. Hôm nay QD và tôi xin trao đổi và hầu chuyện qúi vị về một số vấn đề đáng quan tâm trên thế giới trong hai tuần qua từ ngày 22 tháng 4 đến nay. Hôm Chủ Nhật 24/4 đức Giáo hoàng Benedict 16 đã đăng quang nhậm chức Giáo hoàng của giáo hội Công giáo La Mã trước sự chứng kiến và chào mừng của 500.000 tín đồ Công giáo, trong đó có khoảng 30 đại diện quốc gia tham dự. Thống đốc Jeff Bush, thay mặt tổng thống Bush đại diện Hoa Kỳ tham dự lễ đăng quang. Sau lễ đăng quang đức giáo hoàng Benedict 16 đã chủ lễ một lễ cầu nguyện tại nhà nguyện Sistine nơi ngài được bầu vào chức vụ giáo hoàng. Điều ý nghĩa nhất ngài nói hôm đó là ngài sẽ không quên tinh thần cởi mở của Cộng Đồng Vatican II họp trong các năm 1962-1965. Người ta thường cho rằng Cộng Đồng Vatican II đã đưa ra một số đường lối cởi mở cho giáo hội nhưng đức giáo hoàng tiền nhiệm John Paul II chưa thi hành.

            Tại Iraq  thủ tướng Jaafari đã thành lập xong chính phủ. Quốc hội lâm thời đã biểu quyết chấp thuận hôm thứ Năm 28 tháng 4 và đã tuyên thệ nhậm chức hôm Thứ Ba 3 tháng 5. Đây là một chặng đường quan trọng trong nỗ lực dân chủ hóa Iraq của Hoa Kỳ. Chặng đường tới là làm sao rút quân ra khỏi Iraq mà không mất quyền lợi chiến lược tại Trung đông. Thế giới cũng quan tâm đến chuyến thăm viếng Do Thái của tổng thống Nga Vladimir Putin vì đây là chuyến viếng thăm Do thái lần đầu tiên của một lãnh tụ chính trị Nga. Ngoài ra là việc Trung quốc tiếp đón một phái đoàn của Trung hoa Quốc dân đảng của Đài Loan, và việc Tổ chức các nước Mỹ châu vừa bầu được tân Tổng thư ký.

Để kết thúc chương trình TG2TQ tôi sẽ hầu chuyện thính giả về cuộc thám hiểm Bắc Cực mới đây của bà Matty McNair.

 

QD: Xin ông nói về chính phủ Iraq vừa được quốc hội thông qua. Và sau khi Iraq có chính phủ mới Hoa Kỳ có bao nhiêu giải pháp rút lui trước mắt.

 

TBN: Chính phủ mới gồm 32 bộ, trong đó người Shite chiếm 17 ghế, Kurds chiếm 8 ghế và người Sunni chiếm 6, một ghế cho một dân biểu Thiên chúa  giáo. Và có 6 phụ nữ. Nhưng qua cung cách Quốc hội thông qua thành phần nội các chứng tỏ các bất hòa nội bộ vẫn còn sâu đậm. Trong số 274 dân biểu chỉ có 185 người tham dự phiên họp, và các chức vụ quan trọng như hai Phó thủ tướng, và năm bộ gồm Bộ quốc phòng, Bộ dầu hỏa, Bộ điện lực, Bộ kỹ nghệ và Bộ nhân quyền vẫn chưa tìm được người. Các ghế này tạm thời do các nhân vật quan trọng nắm giữ cho đến khi ba phe phái Shite, Kurds và Sunni chịu thỏa thuận với nhau. Có ba điểm đáng để ý trong thành phần chính phủ Iraq là không có một nhân vật nào trong đảng của cựu thủ tướng Ayad Allawi (mặc dù đảng của ông có 40 ghế trong quốc hội) chứng tỏ đảng ông chọn thế đối lập trong quốc hội. Tin cho biết ông ta đòi 4 ghế bộ trưởng và một phó thủ tướng trong chính phủ nhưng không được thỏa mãn. Tuy nhiên có 4 bộ trưởng trong chính phủ trước của ông được giữ lại ở chức vụ cũ là các Bộ ngoại giao, Bộ kế hoạch, Bộ xây dựng và Bộ giáo dục. Điểm thứ hai là ông Ahmad Chalabi, một nhân vật thân Hoa Kỳ giữ chức vụ phó thủ tướng, và tạm thời nắm chức bộ trưởng dầu hỏa. Và ông Bayan Solagh, một người Shite thân Hoa Kỳ khác nắm giữ chức tổng trưởng nội vụ. Điểm thứ ba là đảng của Muqtada-al-Sadr, một tu sĩ trẻ tuổi thuộc hệ phái Shite trong năm qua đã xúi dục tín đồ gây xáo trộn tại Iraq có 23 ghế trong quốc hội chiếm được 3 ghế trong chính phủ là các Bộ y tế, Bộ giao thông và Bộ xã hội.

Quan tâm chính của Hoa Kỳ là rút quân ra hỏi Iraq, nhưng điều quan trọng hơn là rút lui cách nào mà vẫn bảo đảm một nước Iraq thân Hoa Kỳ.Vì vậy sẽ không có việc đương nhiên rút  quân. Trong buổi họp báo ngàyThứ Năm 28 tháng 4 tổng thống Bush đã nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ không đưa ra một lịch trình rút quân vì làm vậy chỉ có lợi cho phe nổi dậy. Nói cách khác dù muốn dù không, và dù phải hao tốn tiền bạc và tính mạng binh sĩ Hoa Kỳ cũng phải gắn liền với sinh mạng của một chính phủ Iraq thân Hoa Kỳ.

            Giải pháp trước mắt của Hoa kỳ là giúp đở để tân chính quyền Iraq kiện toàn một nền hành chánh tốt và một lực lượng quân đội và cảnh sát hữu hiệu để đương đầu với các lực lượng nổi dậy. Hoa Kỳ không nhất thiết phải chờ dẹp xong quân nổi dậy mới rút lui. Hoa Kỳ có thể rút lui khi chính quyền mới cho thấy họ có thể sống còn như một chính quyền dù còn bạo động

 

QD: Nếu cuộc chiến cứ dằng dai và biến thành nội chiến thì sao?

 

TBN: Cái quan trọng là chính phủ Iraq thân Hoa Kỳ đứng vững hay không chứ nội chiến hay không không phải là điều quan trọng. Và trong giải pháp này Hoa Kỳ có thể sẽ phải trở lại can thiệp nếu chính phủ Iraq thân Hoa Kỳ có cơ sụp đổ

 

QD: Ông nói đến điều này làm tôi nhớ đến chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ đã giúp chính phủ xây dựng một quân đội VNCH hùng mạnh rồi rút lui. Thế nhưng khi VNCH sụp đổ Hoa Kỳ không trở lại can thiệp? Vậy có sự khác biệt nào trong hai trường hợp này?

 

TBN: Có một sự khác biệt lớn. Tại Việt Nam, Hoa Kỳ rút quân qua Hiệp ước Paris, và tại đó khoảng thập niên 1970 Hoa Kỳ không còn quyền lợi chiến lược nào khác nữa sau khi đã phối hợp được Trung quốc để ngăn chận ảnh hưởng của Liên bang Xô viết phóng về phía Nam Thái Bình Dương. Trái lại tại Iraq nếu để chính phủ thân Hoa Kỳ tại đó sụp đổ, kho dầu hỏa Trung đông có thể lọt vào tay những thế lực thù địch với Hoa Kỳ thì đó là điều Hoa Kỳ không thể chấp nhận được.

 

QD: Như vậy giải pháp rút quân mà không có gì bảo đảm cho tương lai không hẳn là thượng sách của Hoa Kỳ.

 

TBN: Lẽ dĩ nhiên đó không phải là giải pháp thượng sách. Còn một giải pháp nữa là giải pháp mời các nước A Rập đưa quân đến Iraq.

 

QD: Các nước A Rập đều phản đối việc Hoa Kỳ tấn công Iraq, vậy không có lỳ do gì họ lại giúp Hoa Kỳ bằng cách gởi quân đến.

 

TBN: Tình hình Iraq có một sự thay đổi căn bản sau cuộc bầu cử ngày 30/1/2005. Đã có  8 triệu người đa số là người Shite và người Kurds đi bầu, và các cuộc bạo động tại Iraq không còn thuần túy để chống sự can thiệp Hoa Kỳ mà đang dần biến thành một sự tranh chấp quyền hành giữa người hồi giáo Shite và Sunni. Trong bối cảnh này khối các nước A Rập có lợi nếu họ giúp dàn xếp cuộc tranh chấp đó để cho nó không biến thành một cuộc nội chiến mà sự tàn phá sẽ không có lợi gì cho các nước A Rập về phương diện ổn định chính trị. Vì vậy việc các nước A Rập gởi quân đến Iraq để ngăn chận một cuộc nội chiến và bảo dảm quyền tự quyết của nhân dân Iraq trong khuôn khổ của Hồi giáo là một giải pháp khả dĩ.

 

QD: Xin ông nói về cuộc thăm viếng của tổng thống Liên bang Nga Valdimir Putin đến Do thái và tầm quan trọng của nó.

 

TBN: Hôm Thứ Tư 27 tháng 4 tổng thống Nga Putin chính thức thăm viếng Do Thái. Và như tôi đã nói ở trên đây là chuyến thăm viếng Do thái chính thức đầu tiên của một nhà lãnh đạo Nga. Muốn thấy sự quan trọng của chuyến thăm viếng cần nhìn lại vai trò của Liên bang Xô viết tại Trung đông trước khi Liên bang Nga sụp đổ. Từ năm 1967 khi Do thái tấn công các nước A Rập chính yếu là Ai Cập và Syria, Liên bang Xô viết bênh vực các nước A Rập đoạn giao với Do Thái thì tình hình chính trị tại Trung đông phản ảnh một phần của cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ đứng về phía Do thái, trong khi Liên bang Xô viết đứng về phía các nước A Rập. Nhưng từ đầu thập niên 1990 sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ thì Liên bang Nga mất chân đứng tại Trung đông, và chính truờng tại đó được quyết định bởi Hoa Kỳ, như chúng ta đã thấy qua cuộc hai chiến năm 1991 và năm 2003.

            Từ năm 2000 sau khi lên cầm quyền tại Liên bang Nga, chương trình chính trị của tổng thống Putin là tái lập uy tín và ảnh hưởng của Liên bang Nga trên thế giới. Việc thăm viếng Do thái và Palestine kỳ này của tổng thống Putin nằm trong chương trình đó.

 

QD: Nhưng thế của Hoa Kỳ vẫn còn mạnh tại Trung đông, vậy có chỗ nào cho Liên bang Nga đặt chân vào?

 

TBN: Tổng thống Putin đã tìm chỗ khó nhất tại Trung đông là Do thái để  đặt chân vào. Cho nên thay vì chỉ đến viếng Ai Cập, tổng thống Putin đến viếng Do thái và Palestine để chứng tỏ rằng sắp xếp việc Trung đông không phải chỉ có một mình Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ vẫn còn mạnh nhưng cuộc chiến dằng dai tại Iraq cho Hoa Kỳ thấy sức mạnh Hoa Kỳ có giới hạn không thể giản ra mãi mà không đứt. Mặt khác Hoa Kỳ còn cần Liên bang Nga để đương đầu với Liên hiệp âu châu, với Bắc Hàn, với Iran. Liên bang Nga tuy còn yếu nhưng với vốn liếng kỹ thuật cao và phiếu phủ quyết tại Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc Liên bang Nga vẫn có tiếng nói đối với các vấn đề Âu châu, Iran và Bắc Hàn. Không phải là không có ý nghĩa khi tại Do thái tổng thống Putin kêu gọi Iran nên tìm cách thuyết phục thế giới rằng Iran không có ý định chế tạo bom nguyên tử.

 Hơn nữa nhìn về lịch sử Do thái và Liên bang Nga có một số vấn đề chung. Trong thế chiến II nhờ Liên bang Xô viết, quân Đồng minh mới thắng Đức quốc xã nhanh chóng và chấm dứt thảm nạn holocaust của người Do thái. Sau khi thế chiến II chấm dứt nước Do thái thành lập, Liên bang Xô viết đã từng ủng hộ nước này cho đến năm 1967. Sau khi Liên bang Xô viết  sụp đổ Liên bang Nga và Do thái tái lập bang giao và đã có hơn 1 triệu người Nga gốc Do thái trở về Do thái sinh sống. Và tổng thống Putin hiểu rằng nếu muốn có tiếng nói tại Trung đông như từng có trước năm 1990 thí dụ như giúp đóng góp vào việc giải quyết cuộc tranh chấp giữa Do thái và Palestine thì thông qua ảnh hưởng với Do thái hơn là thông qua ảnh hưởng của các nước A Rập.

           

QD: Mới đây có tin ông Liên Chiến, chủ tịch Trung hoa Quốc Dân Đảng tại Đài Loan đã đến viếng Bắc kinh và được chính ông Hồ Cẩm Đào chủ tịch nước kiêm chủ tịch đảng Cộng sản Trung quốc tiếp đón. Sự việc này có ý nghĩa như thế nào?

 

TBN: Vâng, hôm Thứ Sáu 29 tháng 4 ông Liên Chiến, chủ tịch Trung hoa Quốc Dân Đảng và một phái đoàn đã đến Bắc Kinh và được tiếp đón trọng thể. Sự việc này ngoài dụng tâm chính trị của Bắc Kinh ai cũng có thể thấy được là làm yếu thế chính trị của tổng thống Trần Thủy Biển, người chủ trương độc lập cho Đài Loan,Trung quốc còn có thể có dụng tâm khác.

           

QD: Dụng tâm khác của Trung quốc là dụng tâm gì?

 

TBN: Trung hoa Quốc dân đảng là đảng cầm quyền tại Đài Loan từ năm 1949 khi bị Mao đuổi chạy ra đó cho đến năm 2000 mới trở thành đảng đối lập. Trung hoa Quốc dân đảng không chủ trương Đài Loan độc lập mà chủ trương thống nhất Trung quốc lục địa dưới một chế dộ dân chủ. Đảng CS Trung quốc và Trung hoa Quốc dân đảng là hai đảng đều chống Nhật trong hai thập niên 1930, 1940, nhưng cũng tranh giành quyền lực chính trị ráo riết lẫn nhau. Năm 1945 Mao và Tưởng giới Thạch chủ tịch Trung hoa Quốc dân đảng gặp nhau tại Trùng Khánh để thương lựng một giải pháp ngưng bắn nhưng không thành. Và kể từ đó đến cuộc gặp gỡ giữa hai đại diện đảng tuần qua là đúng 60 năm. Giữa hai đảng có một mối quan hệ lâu dài, và bây giờ Trung hoa Quốc Dân đảng là đảng đối lập tại Đài Loan cho nên khi tiếp ông Liên Chiến Trung quốc có thể có dụng tâm mớm ý bước đầu chấp nhận đối lập ở một mức độ nào đó. Vì theo lẽ thông thường Trung quốc xem Đài Loan là một tỉnh của Trung quốc, cho nên tiếp ông Liên Chiến có nghĩa là tiếp đối lập của Trung quốc

 

QD: Vậy ông có nghĩ Trung quốc sẽ chấp nhận cho Trung hoa Quốc dân đảng hoạt động tại Trung hoa lục địa và sẽ có bầu cử tự do không?

 

TBN: Tôi nghĩ nếu Trung quốc chọn hướng này thì họ cũng chưa dễ chấp nhận bầu cử tự do mà chỉ chấp nhận một số ghế giới hạn của đối lập tại quốc hội của Trung quốc để đối lập có tiếng nói nhưng đảng CS Trung quốc vẫn kiểm soát chính sách và đường lối.

QD: Nếu Trung quốc chọn hướng thứ hai thì Việt Nam xưa nay vẫn theo gót Trung quốc có bắt chước và chấp nhận một thành phần đối lập tại Việt Nam, thí dụ như Việt Nam quốc dân đảng không?

TBN: Việt Nam thường theo gót Bắc Kinh, nhưng ở đây có một khác biệt căn bản. Là người Trung quốc dù cộng sản hay không cộng sản đều có một mẫu số chung là biến Trung quốc thành một siêu cường trước cả ưu tiên dân chủ hóa, vì vậy họ có thể nhượng bộ lẫn nhau. Trong khi người Cộng sản Việt Nam không có chương trình gì khác hơn là bám lấy quyền hành để bảo vệ quyền lợi trong khi đối lập chỉ có một chương trình là dân chủ hóa là ưu tiên một. Hai ưu tiên này khó thể gặp nhau, vì vậy nếu Việt Nam muốn bắt chuớc Trung quốc cũng không bắt chước được.

QD: Ông có gì nói về tình hình châu Mỹ trong hai tuần qua? 

TBN: Hôm Thứ Hai 2 tháng 5, tại trụ sở của Tổ chức các nước châu Mỹ (tức Organization of American States, viết tắt là OAS) tại Hoa Thịnh Đốn ông José Miguel Insulza, bộ trưởng nội vụ của Chile đã được Tổ chức OAS bầu vào chức vụ Tổng thư ký của Tổ chức với số phiếu 31/34. Đây là lần thứ hai một người Chile giữ chức vụ Tổng thư ký tổ chức OAS. Một người Chile khác là ông Carlo Davila từng giữ chức vụ này trong hai năm 1954-1955. Biến chuyển này không phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ chứng tỏ khối OAS muốn đi một con đường độc lập hơn.

QD: Xin ông cho thính giả biết thêm về Tổ chức OAS.

TBN: Khối OAS được chính thức thành lập năm 1948 dưới  sự bảo trợ của Hoa Kỳ trụ sở đặt tại Hoa Thịnh Đốn để trông coi về tiến triển dân chủ và nhân quyền cũng như cùng nhau kiểm soát nạn buôn lậu ma túy và vũ khí trên lục địa Mỹ châu gồm cả Canada và các nước trong vùng biển Caribbean. Hiện Tổ chức OAS có 34 thành viên. Năm 1962 Cuba xin gia nhập nhưng Hoa Kỳ không chấp thuận. Chức vụ quan trọng nhất là Tổng thư ký nhiệm kỳ 5 năm do các ngoại trưởng các nước Mỹ châu bầu chọn. Từ năm 1948 đến nay Hoa Kỳ có ảnh hưởng gần như tuyệt đối trong việc bầu chọn Tổng thư Ký mặc dù Hoa Kỳ chưa bao giờ nắm giữ chức vụ này.

QD: Tại sao việc bầu ông José Miguel Insulza của Chile không phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ?

TBN: Trong cuộc bầu bán lần này, nguyên thủy Hoa Kỳ ủng hộ  ông Luis Ernesto Derbez, bộ trưởng ngoại giao của Mexico, nhưng trong cuộc bỏ phiếu đầu tiên ngày 11 tháng 4, số phiếu của hai ứng cử viên chia đều 17/17, và trong suốt tháng 4 Hoa Kỳ đã nỗ lực vận động phiếu cho ông Derbez nhưng không có kết quả, trong khi Venezuela là nước đang hiềm khích với Hoa Kỳ lại vận động cho ứng cử viên của Chile và có kết quả. Tuần vừa qua Paraguay trong lần bỏ phiếu trước đã bỏ phiếu cho Mexico cho biết sẽ bỏ phiếu cho Chile.

QD: Thế Hoa Kỳ chịu thua Venezuela hay sao?

TBN: Trước tình huống bất khả kháng này bà Condoleezza Rice, bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đã dàn xếp một sự thỏa thuận rằng Hoa Kỳ sẽ không vận động nữa và ông Derbez của Mexico sẽ rút tên ra khỏi danh sách ứng cử viên để cho ông Insulza đắc cử với điều kiện ông Insulza tuyên bố Tổ chức OAS sẽ cứng rắn với bất cứ quốc gia thành viên nào áp dụng lề lối cai trị không dân chủ (điều này nhắm vào tổng thống Hugo Chavez của Venezuela) và hứa OAS sẽ làm hết sức mình để thúc đẩy dân chủ và nhân quyền tại Cuba.  Ông Insulza đã tuyên bố hai điều trên trong một cuộc họp báo có sự hiện diện của bà Rice và ông Derbez hôm Thứ Sáu 29 tháng 4.

QD: Như vậy Hoa Kỳ vẫn còn duy trì được ảnh hưởng đối với Tổ chức OAS

TBN: Đúng vậy, Hoa Kỳ còn ảnh hưởng đối với Tổ chức OAS vì OAS có 34 nước nhưng Hoa Kỳ cung cấp 60% ngân sách điều hành. Ngân sách hằng năm khoảng 75 triệu mỹ kim.

QD: Xin ông nói về vụ thám hiểm Bắc cực

 

TBN: Vào 6:32 sáng ngày Thứ Ba 26/4/2005 một đoàn thám hiểm 5 người gồm 2 người Anh, một người Canada, một người Nam Phi và cầm đầu bởi một phụ nữ người Mỹ, bà Matty McNair đã đến Bắc cực sau 37 ngày đi trên xe kéo lết trên băng giá bởi một đoàn chó. Cuộc thám hiểm này đạt kỷ lục của thế giới. Chuyến thám hiểm mới nhất cũng bằng xe do chó kéo được thực hiện năm 2000 và kéo dài 43 ngày bởi một đoàn thám hiểm người Canada. Kỷ lục trước đây do ông Robert Peary thực hiện năm 1909 cũng trong 37 ngày nhưng dài hơn 5 giờ đồng hồ.

           

QD: Xin ông cho biết chi tiết về cuộc thám hiểm của bà Matty McNair?

 

TBN: Đoàn thám hiểm 5 người cầm đầu bởi bà Matty McNair đã lên đường ngày 20 tháng 3 từ đảo Ellesmere, một hòn đảo nằm ở mõm cực bắc Canada cách xa Bắc cực 800 km. Bà Matty McNair 53 tuổi đã từng đến Bắc cực một lần và thám hiểm Nam Cực 3 lần. Phương tiện di chuyển là xe gỗ do 16 con chó kéo, và dọc đường đến Bắc cực được ngừng để tiếp tế tại bốn trạm. Vị trí được xác định bởi GPS dùng vệ tinh nhân tạo nên hết sức chính xác, không như chuyến thám hiểm của ông Rorbert Peary tuy cũng 37 ngày nhưng cho đến nay vẫn còn là một nghi vấn.

 

QD: Người ta nghi vấn những gì về chuyến thám hiểm của ông Robert Peary?

 

TBN: Người ta nghi vấn vì cho rằng vào năm 1909 phương tiện định vị trí còn thô sơ nên không chắc ông Peary thực sự đã đến Bắc cực. Trong sổ ghi hành trình của ông Peary so lại với bây giờ cũng không chính xác là nằm đúng trên đường đến Bắc Cực. Người ta còn nghi ngờ rằng ông Peary không thể đi trong 37 ngày như ông đã tuyên bố. Nhưng sự nghi ngờ về thời gian có lẽ xem như được giải quyết sau chuyến thám hiểm của bà McNair vì bà cũng đi trong 37 ngày. Tuy nhiên sự nghi ngờ ông Peary có thật đến Bắc cực chưa thì vẫn còn.

 

QD: Chuyến thám hiểm có ý nghĩa gì?

 

TBN: Tôi nghĩ ý nghĩa lớn nhất là sức người trước thiên nhiên. Văn  minh và các phương tiện kỹ thuật cho con người ngự trị thiên nhiên, và dần dần con người cảm thấy mình thắng thiên nhiên do kỹ thuật chứ con người vẫn yếu đuối trước thiên nhiên. Các cuộc mạo hiểm như vượt biển bằng tàu buồm, vượt không gian bằng khí cầu, leo núi cao hoặc vượt băng tuyết là những nỗ lực để chứng tỏ bắp thịt con người vẫn có khả năng vượt thắng thiên nhiên. Những cuộc mạo hiểm này nhắc nhỡ giới trẻ sự quan trọng của chí phiêu lưu, vì không có óc phiêu lưu con người sẽ ngừng lại ở những gì mình có nếu không muốn nói sẽ đi thụt lui./.

 

---

Trn Văn Sơn

http://www.vnet.org/tbn