THẾ GIỚI HAI TUẦN QUA

(August 12 – August 25, 2005)

Trao đổi về chuyện Thế Giới Hai Tuần Qua giữa phóng viên Quang Dũng (QD) của đài TN/PHVN và ông Trần Bình Nam.

Nội dung này được phát sóng ngày Thứ Năm 25 tháng 8, 2005 vào lúc 10:10PM giờ Hoa Thịnh Đốn trên làn sóng đặc biệt của đài Việt Nam Hải Ngoại (V NHN), và có thể nghe lại sau đó qua Web site: http://www.phvn .org

 Lời giới thiệu của Quang Dũng:

TBN: Kính chào QD và kính chào quý thính giả của đài TN/PHVN. Hôm nay cùng với QD tôi sẽ hầu chuyện với quý thính giả về hai vấn đề.Trước hết là cuộc rút dân định cư Do Thái ra khỏi giải đất Gaza, và vấn đề thứ hai là bản báo cáo của bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về tình hình quân lực của Trung quốc và những hậu quả của nó.

QD: Xin ông nói về cuộc triệt thoái của quân và dân Do Thái ra khỏi Gaza.

TBN: Cuộc triệt thoái như thế giới chứng kiến trong những ngày 17 & 18 tháng 8, nhất là ngày 18 khi quân đội Do Thái theo lệnh đã dùng sức mạnh để buộc những người Do thái không chịu tuân lệnh triệt thoái của chính phủ phải ra khỏi vùng đất Gaza là một cảnh tượng gây nhiều xúc động và là một biến cố có tầm quan trọng không nhỏ trong lịch sử lập quốc của Palestine và sự ổn định của nước Do Thái cũng như trong toàn bộ sự ổn định trong vùng Trung Đông.

QD: Nguyên ủy của cuộc triệt thoái như thế nào?

TBN: Cuộc triệt thoái này là sáng kiến đơn phương của thủ tướng Ariel Sharon đưa ra lần đầu tiên vào tháng 12 năm 2003 và đã làm mọi người ngạc nhiên nghĩ rằng đó là một hành động chính trị để làm vui lòng Hoa Kỳ và mua chuộc dư luận thế giới. Thành phần cực hữu trong đảng Likuk của ông đã kịch liệt chống báng ý kiến này. Thế nhưng ông Ariel Sharon đã vượt qua mọi trở lực và làm cho nó trở thành sự thật.

QD: Vậy chủ ý của ông Ariel Sharon là gì trong quyết định triệt thoái này?

TBN: Lẽ dĩ nhiên lý do thúc đẩy ông Ariel Sharon triệt thoái là vì Do thái đã tiêu hao quá nhiều tiềm lực trong cuộc chiến dai dẵng với những người Palestines mà vũ khí là những cuộc tấn công tự sát. Do thái đã dàn quân lâu ngày trong giải Gaza chỉ để bảo vệ an ninh cho hơn 8000 người đến định cư ở đó sau cuộc chiến năm 1967 trong khi có gần nửa triệu người Do thái khác định cư trong vùng Tây ngạn cũng cần được bảo vệ. Nhưng với ông Sharon việc rút quân khỏi giải đất Gaza không đơn giản là vì mệt mỏi mà còn là một phần trong giải pháp toàn bộ.

QD: Giải pháp toàn bộ đó là giải pháp gì?

TBN: Giải pháp toàn bộ đó là dọn ra khỏi Gaza để ngồi lì ở vùng Tây ngạn sông Jordan để bảo vệ cái sườn của Do thái. Hoa Kỳ, ít nhất là tổng thống Bush đã đồng ý trên nguyên tắc với giải pháp này. Và với áp lực của Hoa Kỳ, ông Sharon tính rằng sẽ thuyết phục được thủ tướng Mahmoud Abbas của Palestine chấp nhận thực tế.

QD: Nhưng những nhóm tranh đấu như Hamas và Islamic Jihad có chịu không?

TBN: Chắc chắn là chưa chịu, và họ sẽ tiếp tục chiến đấu vì họ còn muốn đòi toàn bộ vùng Tây ngạn và thành phố Jerusalem. Nhưng sau khi Do thái rút ra khỏi Gaza, dư luận quốc tế có thể sẽ nghiêng về hòa bình và cuộc đấu tranh của Hamas và Jihad có thể ít được dân chúng Palestines ủng hộ hơn trước. Nhất là nếu sau cuộc triệt thoái, Do thái và Hoa Kỳ giúp chính quyền Palestine cải tiến kinh tế nâng cao mức sống của người dân Palestines.

QD: Do thái có thể giúp người dân Palestines bằng cách nào?

TBN: Hơn 8.000 dân Do thái định cư ở Gaza chiếm hơn 1/5 đất tốt nên sự triệt thoái giúp cho 1 triệu 500 ngàn người dân Palestines ở đó có thêm đất để sinh sống và canh tác. Ngoài ra dân Palestines còn qua lại làm việc bên đất Do thái. Người Do thái có thể tạo điều kiện cho người Palestines có thêm công ăn việc làm. Trong vùng Tây ngạn cũng vậy, quân đội Do thái còn kiểm soát các trục giao thông chính, nên sự nới lỏng an ninh của Do thái cũng là một cách giúp đỡ khác. Nhưng có ổn định hay không còn phụ thuộc vào sự cương quyết của tổng thống Bush đối với Do thái.

QD: Hoa Kỳ có thể làm được những gì?

TBN: Tổng thống Bush từng tuyên bố giúp Palestine thành lập một nước Palestine có chủ quyền sống hòa bình bên cạnh Do thái. Thì đây là thời điểm tốt nhất để thực hiện ý định đó. Trước hết giúp thủ tướng Mahmoud Abbas thiết lập một chính quyền vững vàng tại giải Gaza. Trong vùng Tây ngạn Hoa Kỳ cần áp lực để Do thái chẳng những không lấn thêm đất mà còn giải tỏa dần các khu định cư nằm sâu trong đất của Palestine. Trong số gần nửa triệu người Do thái định cư trong vùng Tây ngạn chỉ có khoảng 100.000 người ở trong những vùng sâu.

QD: Thế giới có thể rút bài học gì về cuộc triệt thoái của Do thái?

TBN: Điểm nổi bật trong cuộc triệt thoái là vai trò của thủ tướng Ariel Sharon. Ông Sharon là tư lệnh của một sư đoàn thiết giáp tham gia trận đánh 6 ngày năm 1967 qua đó Do thái đã chiếm giải đất Gaza và bán đảo Sinai của Ai Cập, chiếm Tây Ngạn sông Jordan của Jordan và vùng đất cao gọi là Golan Heights của Syria. Ông là người chủ trương mang người Do thái đến định cư những vùng đất chiếm được. Và nay ở vai trò thủ tướng ông chủ trương triệt bỏ các khu định cư để trả toàn bộ giải Gaza cho người Palestine trước sự chống đối của chính đảng Likud của ông.

Cuộc triệt thoái đã kết thúc thành công hôm Chủ nhật 21/8 làm cho phòng tuyến phòng thủ của Do thái vững mạnh hơn, uy tín của ông Sharon được củng cố, giúp cho ông thực hiện những gì cần thiết trong vùng Tây ngạn để đi đến một giải pháp hòa bình lâu dài với người Palestines. Những người Do thái định cư trong vùng Tây Ngạn thuộc khuynh hướng cực hữu chủ trương ở lì, cũng như những người Palestines chủ trương đấu tranh đến cùng khi đứng trước ông Sharon cũng phải biết đến đâu thì cần dừng lại.

Thế giới thường nhìn ông Ariel Sharon như một người cực đoan, nhưng qua chính sách và hành động triệt thoái của ông người ta thấy ông là một người biết tiến thoái và những gì ông làm là nhắm đến sự an toàn lâu dài của đất nước và người dân Do thái chứ không phải cho cá nhân ông hay cho đảng Likuk của ông.

QD: Nhưng nhờ cái gì mà ông Sharon làm được công việc khó khăn như trên?

TBN: Tôi nghĩ ông Sharon làm được nhờ nước Do thái có một nền dân chủ vững chắc và người dân Do thái thấm nhuần dân chủ. Ý kiến bất đồng trầm trọng trong nội bộ nhưng khi quốc hội đã biểu quyết thành chính sách thì nó được lực lượng an ninh thi hành trong tinh thần dân chủ và tôn trọng tài sản của dân.

Một số dân định cư chống lại việc dùng lực lượng quân đội để xúc họ ra khỏi các khu định cư nhưng biết tự chế không dùng súng đạn chống lại quân đội, trong khi những người lính Do thái thi hành nhiệm vụ giải tỏa cũng không mang vũ khí và có nhiều quân nhân vừa dở nhà của dân vừa khóc với dân, một cảnh tượng thật là cảm động.

QD: Ông có nói đến bản báo cáo mới đây của bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về tình hình quân lực Trung quốc. Xin ông cho biết nội dung của bản báo cáo này.

TBN: Năm 2000 quốc hội Hoa Kỳ thông qua luật Public Law 106-65 (Section 1202, National Defense Authorization Act for Fiscal Year 2000, Public Law 106-65) yêu cầu bộ Quốc phòng soạn một bản báo cáo cho Quốc hội về chiến lược quân sự hiện nay của Trung quốc và những gì Trung quốc dự tính trong 20 năm tới. Sau 5 năm nghiên cứu bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vừa đệ trình Quốc hội bản báo cáo nói trên. 

Bản báo cáo lượng định nhiều khía cạnh liên quan đến sự phát triển và lớn mạnh của lực lượng quân sự của Trung quốc từ đây cho đến năm 2020.

QD: Có những điểm đặc biệt gì trong bản báo cáo?

TBN: Điểm đặc biệt của bản báo cáo là nhấn mạnh đến các đối sách của Trung quốc đối với vấn đề Đài Loan mà quan hệ nhất là “luật chống ly khai” (anti-secession law) gồm 10 điều nhắm ngăn chận Đài Loan tuyên bố độc lập quốc hội Trung quốc biểu quyết thông qua ngày 14 tháng 3 năm nay.

QD: “Luật chống ly khai” gồm những điểm gì?

TBN: Luật này có 10 điều. Và có thể được tóm tắt như sau:

Điều 1 ghi nhận mục đích của bộ luật là ngăn chận ý định của Đài Loan tách ra khỏi Trung quốc. Điều 2 xác định rằng Đài Loan là một phần đất bất khả phân của Trung quốc, và Trung quốc sẽ không để cho Đài Loan tách ra khỏi Trung quốc dưới bất cứ hình thức nào. Điều 3 xác định quan hệ Trung quốc – Đài Loan là việc nội bộ của Trung quốc không nước nào bên ngoài có quyền can thiệp. Điều 4 xác định sự thống nhất quốc gia là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân Trung quốc cũng như nhân dân Đài Loan. Điều 5 xác định điều kiện tiên quyết để Trung quốc thương thuyết với Đài Loan để tìm một giải pháp hòa bình là Đài Loan chấp nhận nguyên tắc một nước Trung quốc. Trong thời gian đó Đài Loan có thể theo một thể chế chính trị khác với lục địa cái   trước đây Trung quốc thường miêu tả bằng cụm từ “một nước, hai thể chế”. Điều 6 nói những con đường để tiến tới thống nhất Trung quốc trong hòa bình là trao đổi văn hóa, kinh tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, thể thao và những “hoạt động khác” giúp thăng tiến hòa bình và ổn định. Điều 7 ghi ra một số vấn đề hai bên sẽ thảo luận với nhau trên căn bản bình đẳng. Điều 8 nói Hội đồng Bộ trưởng và Quân ủy Trung ương sẽ “quyết định và thi hành” những biện pháp “không hòa bình” để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ Trung quốc nếu các thế lực ly khai hay một biến chuyển nào đó làm cho Đài Loan ly khai ra khỏi Trung quốc, hoặc khi mọi con đường thống nhất Đài Loan với lục địa bằng phương pháp hòa bình đã được dùng mà không có kết quả. Điều 9 nói trong trường hợp có chiến tranh Trung quốc sẽ làm hết sức mình để bảo vệ sinh mạng, tài sản và các thứ quyền căn bản của nhân dân Đài Loan và ngoại kiều ở Đài Loan cũng như quyền của dân Đài Loan ở nước ngoài. Điều 10 tuyên bố luật có hiệu lực từ ngày công bố.

QD: Điều khoảng nào là điều quan trọng nhất của “luật chống li khai”?

TBN: Tôi nghĩ điều 8 là điều quan trọng nhất. Điều này nói  trong những trường hợp nào Trung quốc có thể đánh Đài Loan. Đó là hoặc Đài Loan tuyên bố độc lập, hoặc thương thuyết để thống nhất mãi không xong. Nhưng quan trọng ở chỗ trong điều này Trung quốc dùng ngôn từ lỏng lẻo để trong mọi trường hợp không đặt mình vào thế bị động, nghĩa là có đánh Đài Loan hay không là do mình quyết định chứ không để cho Hoa Kỳ tạo điều kiện đưa Trung quốc vào chiến tranh.

QD: Theo bản báo cáo, bộ Quốc phòng Hoa Kỳ dự đoán chính sách của Trung quốc đối với Đài Loan sẽ như thế nào?

TBN: Theo giới tình báo Hoa Kỳ, Trung quốc sẽ gây sức ép với Đài Loan trên các mặt trận ngoại giao, kinh tế, tâm lý và quân sự. Trung quốc khuyến khích và tạo điều kiện dễ dãi mời gọi Đài Loan đầu tư vào lục địa càng nhiều càng tốt. Đầu tư nhiều, giới kinh doanh Đài Loan sẽ không muốn thấy có chiến tranh làm đổ vỡ. Trung quốc ve vãn 26 nước trên thế giới đang công nhận Đài Loan và vận dụng ngoại giao “cũ cà rốt và cây gậy” để không một nước nào khác nữa công nhận Đài Loan. Trung quốc cũng xử dụng áp lực quân sự bằng các cuộc phối trí và thao diễn quân sự có tính đe dọa.

Bản báo cáo của bộ quốc phòng Hoa Kỳ lượng định rằng nếu Trung quốc quyết định dùng sức mạnh Trung quốc cũng sẽ dùng một cách tiệm tiến không buộc các nước khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Liên hiệp quốc phải vào cuộc ngay.

Thí dụ như không tấn công ngay mà phong tỏa trước. Và sau cùng là đổ bộ lên chiếm Đài Loan. Có nhiều cách đổ bộ Đài Loan. Theo Hoa Kỳ cách được giới chức quân sự Trung quốc nghiên cứu kỹ nhất là lập một đầu cầu trên đảo để đưa quân vào, sau đó thọc vào nội địa cắt đôi hòn đảo hoặc đánh chiếm các cơ sở quân sự và chính trị đầu não.

Giới tình báo Hoa Kỳ cho rằng lúc này Trung quốc có khả năng thực hiện một cuộc đổ bộ nhưng chính Trung quốc cũng còn nghi ngờ sự thành công của chiến dịch vì Trung quốc biết khả năng không vận, thủy vận và kỹ thuật phối hợp liên quân của mình còn yếu kém và thô sơ.

QD: Bản báo cáo có ảnh hưởng gì đến tình hình chung của thế giới?

TBN: Bản báo cáo của tình báo Hoa Kỳ phóng một cái nhìn khá thấu triệt về Trung quốc trong 15 năm tới. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ khẳng định Trung quốc sẽ là một cường quốc về kinh tế và quân sự, Trung quốc sẽ tranh chấp vai trò lãnh đạo thế giới với Hoa Kỳ, Trung quốc có một kế hoạch chi tiết để thống nhất Đài Loan bằng đường lối hòa bình và bằng bạo lực quân sự. Qua báo cáo vấn đề quan hệ Trung quốc-Hoa Kỳ-Đài Loan trở thành một vấn đề nóng mà những nhà lãnh đạo chính trị cả hai bên đều cần có những cái nhìn chính xác có tính viễn kiến vào cục diện tương lai để không đưa thế giới vào một cuộc phiêu lưu mà không ai có thể tìm thấy con đường ra.

QD: Một câu hỏi mấu chốt là: Nếu Trung quốc đánh Đài Loan, Hoa Kỳ có nhảy vào cuộc không?

TBN: Hoa Kỳ chưa hề xác định thái độ về việc này. Hoa Kỳ có nhiều khó khăn nếu nhảy vào cuộc, và Hoa Kỳ có nhiều lý do để không nhảy vào. Hoa Kỳ nhảy vào có thể làm cho chiến tranh lan rộng và biến thành thế chiến. Hoa Kỳ không nhảy vào uy tín Hoa Kỳ có thể suy giảm nhưng không làm Hoa  Kỳ mất vị thế siêu cường sau khi Trung quốc vì cuộc tấn công (dù thắng lợi) trở nên suy kém. Nếu Hoa Kỳ không can thiệp bằng bộ binh mà chỉ yễm trợ cuộc kháng chiến của Đài Loan bằng mọi phương tiện chiến tranh giới hạn khác thì sau trận đánh Hoa Kỳ sẽ còn sung sức hơn Trung quốc.

Như vậy, cả hai phía, Trung quốc cũng như Hoa Kỳ một cuộc chiến sẽ có nhiều bất trắc mà không bên nào có thể nhìn thấy trước ngoại trừ một điều khá chắc chắn là cả hai bên đều “sức đầu vỡ trán” dù thắng hay bại. Đó là chưa nói đến mối nguy của một trận chiến nguyên tử mà kết quả là sự toàn diệt thế giới.

QD: Bản báo cáo của Hoa Kỳ có những ảnh hưởng tâm lý như thế nào đối với người làm chính sách Hoa Kỳ?

TBN: Bản nghiên cứu tình báo của Hoa Kỳ về sức mạnh và ý đồ của Trung quốc có thể làm cho Hoa Kỳ thấy cần phải có những biện pháp đề phòng sự lớn mạnh của Trung quốc. Và nếu Hoa Kỳ theo đuổi một chính sách như vậy một cách khéo léo và mềm dẽo thì cũng phải thôi. Nhưng điều đáng quan ngại là gần một thế kỷ làm đàn anh trên thế giới Hoa Kỳ có khuynh hướng cảm thấy bất an khi thấy ai ngang hàng với mình và nhất là có thể đe dọa mình.

Với cuộc chiến tại Iraq không có gì hứa hẹn ở cuối đường hầm cho cả hai bên lâm chiến.Với làn sóng khủng bố đang lan từ thủ đô này đến thủ đô khác, và nhất là tại Hoa Kỳ sự đe dọa của một vụ khủng bố bằng vũ khí giết người hằng loạt không còn là điều gọi là “unthinkable”nữa, cái tâm lý chiến tranh, tâm lý hành động mạnh có thể được nuôi dưỡng và thúc bách./.  

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn