THẾ GIỚI HAI TUẦN QUA

(June 17 – June 30, 2005)

Trao đổi về chuyện Thế Giới Hai Tuần Qua giữa phóng viên Quang Dũng (QD) của đài TN/PHVN và ông Trần Bình Nam. Nội dung này được phát sóng ngày Thứ Năm, 30 tháng 6, 2005 vào lúc 10:10PM giờ Hoa Thịnh Đốn trên làn sóng đặc biệt của đài Việt Nam Hải Ngoại (VNHN), và có thể nghe lại sau đó qua Web site: http://www.phvn.org

 Lời giới thiệu của Quang Dũng:

TBN: Trong hai tuần qua có một số sự việc thế giới quan tâm. Trước hết là chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của thủ tướng Phan Văn Khải từ ngày 19 đến 25 tháng 6. Thứ hai là cuộc bầu cử tổng thống tai Iran.Tại đây ứng cử viên bảo thủ là ông Mahmoud Ahmadinejad, cựu thị trưởng thành phố Teheran đã đắc cử trong vòng bầu cử thứ nhì ngày Thứ Sáu 24/6. Tại Hoa Kỳ, quốc hội Hoa Kỳ đang tranh cãi nên hay không nên phê chuẩn thỏa ước thương mãi song phương CAFTA giữa Hoa Kỳ và 6 nước Trung Mỹ, và kết quả sẽ có hậu quả lớn đối với các thoả thuận mậu dịch quan trọng khác của Hoa Kỳ trên thế giới. Việc khác, hôm Chủ nhật 26/6 tại San Francisco, một số chính khách của một số quốc gia trên thế giới đã gặp gỡ để kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Liên hiệp quốc. Sau cùng là một cố gắng trong lĩnh vực khoa học dùng sức đẩy của những hạt quang tử của ánh sáng mặt trời để đưa những phi thuyền cực nhẹ vào thám hiểm vũ trụ ở xa ngoài thái dương hệ.

QD: Chuyến viếng thăm của thủ tướng Phan Văn Khải trong tuần qua quan trọng như thế nào đối với bang giao Việt-Mỹ?

TBN: Sự quan trọng của chuyến thăm viếng Hoa Kỳ của thủ tướng Phan Văn Khải từ ngày 19 đến ngày 25/6 tập chú chung quanh vấn đề Việt Nam vào Tổ chức Mậu dịch Quốc tế WTO và hợp tác an ninh Việt Mỹ trong vùng Thái bình dương.

QD: Tạo sao Việt Nam lại quan tâm đến vấn đề vào WTO như vậy?

TBN: Việc này liên quan đến một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam là ngành may mặc. Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất của hàng may mặc Việt Nam, và vào được WTO Việt Nam sẽ không bị hạn chế quota nhập cảng hàng may mặc vào Hoa Kỳ. Hàng may mặc của Việt Nam đang bị ứ đọng và việc chậm vào WTO có thể ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam.

QD: Muốn vào WTO Việt Nam cần được sự chấp thuận của tất cả các nước hội viên. Thế tại sao Việt Nam chỉ dồn nỗ lực vận động Hoa Kỳ? Và Việt Nam đã làm gì để thuyết phục Hoa Kỳ?

TBN: Việt Nam dồn nhiều công sức vận động Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ là thị trường lớn, và một khi Hoa Kỳ đã chấp thuận thì các nước khác sẽ chấp thuận. Cái thế đặc biệt của Hoa Kỳ là ở chỗ đó. Và Việt Nam đã thuyết phục Hoa Kỳ bằng sắp xếp ký giao kèo mua 4 chiếc máy bay Boeing trên đường tới thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Hãng Boeing đang gặp sự tranh mối của hãng đóng máy bay Airbus của Âu châu nên sự mua bán này là một cử chỉ làm cho Hoa Kỳ rất hài lòng.

QD: Còn vấn đề hợp tác an ninh giữa hai nước thì chuyến đi của ông Phan Văn Khải đạt được những kết quả gì?

TBN: Chính thức thì Hoa Kỳ đồng ý nhận huấn luyện tại Mỹ một số sĩ quan của quân đội Việt Nam về Anh ngữ và quân y. Nhưng đó chỉ là một kế hoạch đầu cầu để không làm cho Trung quốc sốt ruột. Những kế hoạch mà trong bản thông cáo chung sau cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Bush và thủ tướng Phan Văn Khải được miêu tả như là: “hai bên trao đổi ý kiến và góc nhìn về hòa bình và an ninh trong vùng Đông nam Á và sẽ hợp tác song phương hay đa phương với nhau để thực hiện mục tiêu trên” mới là những kế hoạch quan trọng.

QD: Những kế hoạch đó có thể là những kế hoạch gì?

TBN: Việc quan trọng đối với Hoa Kỳ là giữ vững tư thế của mình trong vùng Tây Thái Bình Dương trước sự lớn mạnh về cả hai mặt kinh tế và quân sự của Trung quốc. Cho nên sự hợp tác an ninh với Việt Nam không ngoài mục đích trên. Vùng tranh chấp tế nhị là vùng biển Đông ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Nó là đường giao thông huyết mạch từ Ấn Độ Dương lên bắc  Thái Bình Dương và còn là một vùng có triển vọng có nhiều dầu hỏa mà Trung quốc đang nói là của họ. Hoa Kỳ cũng như Việt Nam đều có cùng quyền lợi về an ninh nếu giữ cho vùng biển này nằm ngoài ảnh hưởng của Trung quốc. Và đó là kế hoạch hợp tác an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

QD: Trung quốc có chịu ngồi yên nhìn Hoa Kỳ và Việt Nam hợp tác với nhau để kìm chân mình không?

TBN: Lẽ dĩ nhiên là không. Và Trung quốc sẽ vận dụng tối đa ảnh hưởng sẵn có đối với một số đảng viên cao cấp trong đảng Cộng sản Việt Nam để duy trì tư thế của mình, nhất là vận dụng nhân sự chuẩn bị nhân dịp đại hội 10 của đảng  Cộng sảnViệt Nam vào năm tói. Cuộc đánh đấm nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tiền đại hội như đang diễn tiến trong nhiều tháng qua không khỏi có bàn tay của Trung quốc. Tuy nhiên với tình cảm chống Trung quốc của nhân dân trong nước, có thể đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chọn con đường hợp tác chiến lược tốt nhất là xích lại gần với Hoa Kỳ như hướng đi trong năm qua, nếu như nội bộ họ có thể giải quyết với nhau. Trong trường hợp này chuyến thăm viếng Việt Nam chính thức của tổng thống Bush vào cuối năm 2006 nhân đi dự hội nghị các nước nằm ven biển Thái bình dương (gọi là khối APEC) triệu tập tại Hà Nội sẽ là một khúc quanh quan trọng trong bang giao của hai nước.

QD: Người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ công nhận sự hợp tác chiến lược giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là điều cần thiết cho hai nước, nhưng nhìn chuyến đi của thủ tướng Phan Văn Khải một cách nghi ngờ vì cho rằng sự hợp tác này chỉ giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam kéo dài thời gian đảng trị mà không chịu cởi mở chính trị, và nới tay về nhân quyền.

TBN: Sự nghi ngờ của cộng đồng người Mỹ gốc Việt là hữu lý. Và tiếng nói của người Việt tại Hoa Kỳ nhân chuyến công du của ông Khải không nhiều thì ít đã ảnh hưởng đến thái độ của chính phủ Hoa Kỳ trong việc thúc bách chính quyền Cộng sản Việt Nam cần cải tiến mặt nhân quyền và sự tự do hành đạo.

Cũng do áp lực của Hoa Kỳ cho nên trước khi thủ tướng Phan Văn Khải lên đường chính quyền Hà Nội đã ban hành một số văn kiện về tự do hành đạo. Ngoài ra bản thông cáo chung ghi nhận Việt Nam đã có một vài nỗ lực cải tiến nhưng Hoa Kỳ chờ đợi hơn nữa.

Trên thực tế sự hợp tác chiến lược giữa Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ có thể mang lại kết quả lâu dài là bảo vệ an ninh và tài nguyên thế giới cho cả hai dân tộc chừng nào chính quyền tại Hà Nội đại diện đích thực cho nhân dân Việt Nam và huy động được sự hậu thuẫn của toàn dân Việt Nam. Và sức mạnh của toàn dân chỉ có thể đến bằng con đường dân chủ. Rất tiếc Việt Nam hiện nay chưa có dân chủ.

 QD: Xin ông nói về cuộc bầu cử tổng thống tại Iran?

TBN: Trong cuộc bầu cử tổng thống tại Iran vòng thứ hai ngày Thứ Sáu 24/6, 23 triệu người dân Iraq (hay 49% cử tri) đã đi bỏ phiếu và 61.6% chọn ông Mahmoud Ahmadinejad. Ông Akbar Rafsanjani cựu tổng thống chỉ được 35.9%. Ông Mahmoud Ahmadinejad nguyên là thị trưởng thành phố Teheran thủ đô của Iran và là một ngưòi bảo thủ. Đa số cử tri bỏ phiếu cho ông Ahmadinejad thuộc thành phần nghèo và sùng đạo.

QD: Sự đắc cử tổng thống của ông Mahmoud Ahmadinejad sẽ có những hậu quả gì?

TBN: Ông Mahmoud Ahmadinejad năm nay 48 tuổi là một người trung thành với đường lối giáo quyền của giáo sĩ Komeini, người lãnh đạo cuộc cách mạng Hồi giáo năm 1979 lật đổ ông Shah. Sự đắc cử của ông chứng tỏ thành phần nghèo và sùng đào Hồi muốn một chính phủ cứng rắn để đương đầu với Hoa Kỳ, và sẽ tạo thêm khó khăn cho Hoa Kỳ và thế giới tây phương trong cuộc chiến chống khủng bố. Trước mắt chương trình năng lượng nguyên tử của Iran sẽ là một vấn đề vì có nhiều triển vong tân tổng thống sẽ thay đổi đường lối thương thuyết của chính phủ trước.

QD: Ngoài những nét ông nêu ra ở trên, nói chung đường lối chính trị của tân tổng thống Mahmoud Ahmadinejad như thế nào?

TBN: Trước phản ứng lo âu của thế giới do sự đắc cử của ông, hôm Chủ Nhật 26/6 ông Mahmoud Ahmadinejad tuyên bố trong một cuộc họp báo rằng đường lối chính trị của ông là sự liên tục của chính sách và ôn hòa. Tuy nhiên dựa vào lập trường được biết qua những lời tuyên bố trước đây của ông Mahmoud Ahmadinejad người ta chờ đợi những thay đổi căn bản về chính sách đối ngoại của Iran trong những ngày tháng tời.

Ông ta từng tuyên bố, quan hệ tốt với Hoa Kỳ không phải là phương thuốc tốt nhất chữa mọi chứng bệnh của Iran. Quan hệ nay nếu được tái thiết lập cần thiết lập trên căn bản duy trì độc lập và tự ái quốc gia.

Về chương trình năng lượng nguyên từ, ông nói thực hiện một chương trình nguyên tử phục vụ hòa bình là nhu cầu thiết thực của quốc gia và chính phủ Iran nào cũng phải làm mọi cách để thực hiện.

Về mặt xã hội và cải tổ chính trị ông Mahmoud Ahmadinejad nói làm cách mạng không phải chỉ để thực hiện dân chủ cũng như chỉ để phụ nữ được choàng khăn che mặt. Chính yếu của cách mạng là công ăn việc làm và nhà ở.

Về kinh tế ông nói ông sẽ chận những bàn tay tham lam muốn chiếm hữu dầu hỏa của đất nước, đặc biệt là các ngân hàng tư. Và ông hứa mỗi người dân đều có quyền chia quyền lợi về dầu hỏa.

Về toàn cầu hóa, ông nói Iran không vội gia nhập WTO. Ba năm nữa cũng chưa muộn. Iran cần thời gian để bảo vệ nền kỹ nghệ của Iran trước.

QD: Ở trên ông có nói thoả ước mậu dịch đa phương CAFTA  nếu không được quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn sẽ có những hậu quả bất lợi cho Hoa Kỳ trên bình diện thế giới. Việc này thật sự như thế nào?

TBN: Chúng ta đã biết cách đây một năm chính phủ Bush ký thoả ước mậu dịch đa phương (gọi là thỏa ước CAFTA) với 6 nước gồm năm nước trung Mỹ châu là Guatemala, Honduras, El Salvador, Nicaragua, Costa Rica và Cộng hòa Dominican nhưng quốc hội Hoa Kỳ vẫn chưa muốn phê chuẩn. Nếu quốc hội Hoa Kỳ không phê chuẩn thì tư thế của Hoa Kỳ trong những cuộc thương thuyết mậu dịch có tính toàn cầu như vòng thương thuyết Doha sắp tới qua đó thế giới sẽ bàn về việc trợ cấp (hay không trợ cấp) cho nông dân sẽ rất yếu.

QD: Mỗi thỏa ước mậu dịch có tính chất riêng của nó, vậy tại sao việc bác bỏ CAFTA lại có ảnh hưởng đối với các thỏa ước khác Hoa Kỳ có thể ký sau này?

TBN: Đành là như vậy, nhưng thỏa ước CAFTA thật ra là một thỏa ước ít quan trọng vì không ảnh hưởng nhiều đến công ăn việc làm tại Hoa Kỳ, trái lại giúp ổn định kinh tế các nước liên hệ và do dó tăng ảnh hưởng chính trị của Hoa Kỳ tại các nước đó. Nếu ít ảnh hưởng đối với Hoa Kỳ mà quốc hội không thông qua thì các nước khác trên thế giới đâu còn phấn khởi gì thương thuyết những thỏa ước quan trọng hơn với Hoa Kỳ.

QD: Tại sao CAFTA ít quan trọng đối với Hoa Kỳ. Và ít quan trọng tại sao lại không được quốc hội thông qua?

TBN: CAFTA ít quan trọng vì sức sản xuất hằng năm của 6 nước trong CAFTA là 86 tỉ mỹ kim, chưa bằng một tiểu bang nhỏ như bang Nevada của Hoa Kỳ. Và nếu không có CAFTA 80% hàng hoá từ 6 nước trên đã được nhập cảng vào Hoa Kỳ miễn thuế, ngoại trừ đường và một số phẩm vật không quan trọng khác. Nếu CAFTA được phê chuẩn thì đường sẽ được miễn thuế và đó là nguyên nhân các nông gia sản xuất đường phản đối CAFTA. Tại Hoa Kỳ các dân biểu các tiểu bang sản xuất đường hầu hết đều là dân biểu thuộc đảng Cộng hòa, và họ phải bỏ phiếu chống theo cử tri địa phương. Trong khi đó các dân biểu Dân chủ đa số có khuynh hướng bảo thủ mậu dịch cũng sẽ bỏ phiếu chống và kết quả có thể đưa đến sự bác bỏ thỏa ước CAFTA.

QD: Ông có nói hôm Chủ Nhật 26/6 đánh dấu 60 năm ngày thành lập Liên hiệp quốc. Buổi lễ kỷ niệm có gì để dư luận quan tâm không?

TBN: Vâng, buổi lễ kỷ niệm không có tính cách tưng bừng vì Hoa Kỳ không còn xem Liên hiệp quốc là một tổ chức quan trọng. Hoa Kỳ chỉ cử ông Sichan Siv, đương kim đại diện Hoa Kỳ tại Ủy ban Kinh tế và Xã hội Liên hiệp quốc. Các nước khác cũng cử những đại diện cấp thấp, ngoại trừ tổng thống Ireland là bà Mary Robinson. Bà Robinson nguyên là Cao Ủy Liên hiệp quốc đặc trách nhân quyền.

QD: Tại sao thế giới ít quan tâm đến Liên hiệp quốc?

TBN: Có hai lý do. Thứ nhất là ai cũng nhận thấy Liên hiệp quốc cần phải được tái cấu trúc. Và trong khi chờ đợi tái cấu trúc Liên hiệp quốc cũng cần thực hiện một số cải tổ. Hoa Kỳ cho biết sẽ không đóng tiền cho Liên hiệp quốc nếu Liên hiệp quốc không thực hiện các cải tổ cần thiết. Thứ hai là uy tín Liên hiệp quốc xuống thấp với tai tiếng trong việc điều hành chương trình đổi dầu lấy thực phẩm của Iraq trong thời gian bị phong tỏa kinh tế sau cuộc chiến năm 1991, và dư luận nghi ngờ người con trai của ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan có dính líu.

QD: Vậy tương lai của Liên hiệp quốc sẽ như thế nào?

TBN: Nếu vào dịp họp đại hội đồng cuối năm nay Liên hiệp quốc tái cấu trúc được Hội đồng Bảo an thì Liên hiệp quốc có cơ hội xây dựng lại uy tín của mình. Nếu không thì Liên hiệp quốc chỉ còn là một diễn đàn để các nước hội viên bày tỏ sự bất hòa với nhau, và là nơi để 5 ủy viên thuờng trực của Hội đồng Bảo an là Anh Pháp, Nga Mỹ và Trung quốc kèn cựa hoặc trao đổi quyền lợi với nhau.

QD: Bây giờ xin ông nói về nỗ lực khoa học mới nhất để khám phá không gian ngoài thái dương hệ.

TBN: Đây là một sáng kiến chung của một số khoa học gia tư nhân người Mỹ và người Nga dùng những hạt quang tử của ánh sáng mặt trời để đẩy một phi thuyền cực nhẹ vào không gian. Ngày 21/6 vừa qua một tiềm thủy đỉnh của Nga lặn sâu dưới mặt nước trong vùng biển Barents thuộc Bắc băng dương đã bắn một loại hỏa tiễn liên lục địa vào quỹ đạo quả đất mang theo phi thuyền Cosmos 1. Phi thuyền này do một hội tư nhân tại Hoa Kỳ gọi là hội Planetary Society thành lập từ năm 1980 sáng chế. Nguyên tắc bắn Cosmos 1 trong gian đoạn này không khác gì những cuộc phóng phi thuyền cổ điển. Chỉ khác là Cosmos 1 là một phi thuyền đặc biệt được chế tạo như một chiếc dù có 8 cánh buồm thật mỏng xếp lại với nhau và làm với vật liệu cực nhẹ. Sau 4 ngày ở trong quỹ đạo, các chuyên viên của chương trình sẽ cho các cánh buồm mở ra để nhận sức đẩy của các quang tử (photon) của ánh sáng mặt trời khi các quang tử đập vào mặt cánh buồm.

QD: Trên nguyên tắc sức đẩy của các hạt quang tử quá yếu làm thế nào để làm cho Cosmos 1 di chuyển.

TBN: Đúng vậy sức đẩy của một hạt quang tử đập vào một bề mặt sẽ không có nghĩa lý gì, và càng yếu nếu bề mặt hấp thụ ánh sáng không cho phản chiếu ra. Người ta tính ra rằng các quang tử đập vào một bề mặt rộng một cây số vuông (hay 1.000.000 mét vuông) trong điều kiện lý tưởng nhất tạo ra một sức đẩy chỉ ngang bằng một viên gạch nhỏ. Vì vậy 8 cánh buồm của Cosmos 1 được chế tạo thế nào để khi trải ra có một diện tích càng rộng càng tốt. 

Sau khi các cánh buồm trải ra, sức đẩy của các quang tử vào mặt buồm sẽ tạo nên một gia tốc đầu tiên. Gia tốc này rất nhỏ. Nhưng trong môi trường vô trọng lực và hoàn toàn không có sức cản của không khí, gia tốc cực nhỏ này sẽ có khả năng làm cho phi thuyền di chuyển theo một nguyên tắc của cơ học thuấn lý. Qua thời gian tốc độ sẽ tăng dần. Các chuyên viên của chương trình tính ra rằng nếu Cosmos 1 vận hành như dự tính thì trong 3 năm vận tốc của Cosmos 1 sẽ lên đến 200.000 miles một giờ, hay 320.000 cây số/giờ. Với tốc độ đó Cosmos 1 sẽ bay thênh thang vào không gian và sẽ làm tai mắt cho quả đất về vũ trụ bao la bao bọc chung quanh.

QD: Vậy Cosmos 1 đã đi vào không gian chưa?

TBN: Rất tiếc Cosmos 1 gặp trở ngại kỹ thuật nên người ta chưa biết lý thuyết dùng quang tử làm sức đẩy có trở thành một sự thật không? Tuy nhiên căn bản khoa học của chương trình rất vững chắc, và không có gì để chúng ta nghĩ rằng lý thuyết này không trở thành sự thật qua những thí nghiệm kế tiếp. Thí nghiệm ngày 21/6 vừa qua chỉ tốn 4 triệu mỹ kim./.

  

 


Trần Bình Nam

http://www.vnet.org/tbn